|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 6 - 2024 Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bà Nguyễn Thị Bình
2. Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2024; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thạch T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số H, đường Đ, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số D đường Đ, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị Hoàng Thạch T, anh Nguyễn Hoàng A tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2016, tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị T, anh A chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân một phần là do trước khi kết hôn với anh A, chị T đã có một người con riêng, nên mỗi khi vợ chồng có chuyện gì thì anh A thường chưởi bới, hằn học chị T đủ thứ; ngoài ra anh A thường ghen tuông, nghi ngờ chị T có quan hệ bất chính với người khác vô cớ; bản thân chị T đã nhiều lần khuyên bảo, động viên, cho anh A cơ hội nhưng anh A vẫn không thay đổi được, từ đó vợ chồng thiếu quan tâm, chia sẽ nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống, nhiều khi anh A còn đánh đập chị T. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên từ tháng 11/2023 cho đến nay chị T đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, cũng kể từ đó chị T, anh A ly thân và không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị T không còn tình cảm với anh A nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng A:
Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh ngày 16/5/2024, bút lục 35 thể hiện:
Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983, hiện cư trú tại số nhà D, đường Đ, tổ A, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại biên bản xác minh ngày 16/5/2024, bút lục 34 thể hiện:
Anh Nguyễn Hoàng A, chị Hoàng Thạch T là vợ chồng, chung sống tại gia đình nhà anh A. Thời gian gần đây chị T chuyển về nhà cha mẹ ruột sinh sống, làm ăn, hiện vợ chồng không còn sống chung.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hoàng Thạch T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn anh Nguyễn Hoàng A hiện thường trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị Hoàng Thạch T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hoàng A không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Hoàng Thạch T nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Chị Hoàng Thạch T, anh Nguyễn Hoàng A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 11/4/2016, số vào sổ 22/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn chị T, anh A chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Chị T đã nhiều lần khuyên bảo, động viên anh A thay đổi để vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng vẫn không có kết quả. Nên cả hai đã ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay, từ đó chị T, anh A không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau; hiện nay chị T không còn tình cảm gì với anh A nên đề nghị giải quyết ly hôn. Bản thân anh A, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh A cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị T. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh A đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng. Nên, cần xử cho chị T được ly hôn với anh A là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
[6] Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[7] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thạch T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thạch T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 11/4/2016, số vào sổ 22/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Chị Hoàng Thạch T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004224, ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Chữ ký và họ tên) |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thạch Thảo- Nguyễn Hoàng Anh
