trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/8/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu – Kiểm sát Viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 140/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Vy T, sinh năm 1996;

Bị đơn: Đào Kim S, sinh năm 1985;

Đồng địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người làm chứng: Đào Văn Th, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T trình bày: Bà T và ông S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào ngày 17/7/2017. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ông S không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng sống không hạnh phúc.

Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đào Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/9/2017 và Đào Bảo L, sinh ngày 10/02/2919, hiện nay con chung Đào Nguyễn Khánh V do bà T trực tiếp nuôi dưỡng và con chung Đào Bảo L do ông S trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Đào Nguyễn Khánh V và giao con chung Đào Bảo L cho bị đơn ông S trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Bà T không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Đào Kim S có đơn trình bày thống nhất ly hôn với bà T, thống nhất giao con chung Đào Nguyễn Khánh V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông S trực tiếp nuôi con chung Đào Bảo L, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu giải quyết tài sản nhưng ông S không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn. Về con chung: Giao con chung tên Đào Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/9/2017 cho nguyên đơn bà T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Đào Bảo L, sinh ngày 10/02/2919 cho bị đơn ông S trực tiếp nuôi dưỡng . Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Đào Kim S có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.2] Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T và bị đơn Đào Kim S tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành Tây vào ngày 17/7/2017 là hôn nhân hợp pháp. Bà T khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Hòa Mỹ Đông tại biên bản xác minh ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, lời khai người làm chứng và bị đơn ông Đào Kim S cũng có ý kiến thống nhất ly hôn.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà T và ông S đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà T và ông S như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy, con chung tên Đào Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2017, lâu này đã quen sống cùng bà T, hơn nữa cháu có nguyện vọng ở với bà T, cháu Đào Bảo L, sinh ngày 10/02/2919 lâu nay do bị đơn ông S trực tiếp chăm sóc nên đã quen sống cùng với ông S. Bà T, ông S cũng thống nhất giao con chung Đào Nguyễn Khánh V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cong chung Đào Bảo L cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để cháu Vân, cháu Lâm phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần giao cháu Vân cho cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lâm cho bị đơn ông S trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên đương sự, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí nên ghi nhận, bà T phải chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại phiếu thu số 0000891 ngày 13/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa nên hoàn lại cho nguyên đơn 150.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T và bị đơn Đào Kim S.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T và bị đơn Đào Kim S về việc: Giao con chung tên Đào Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2017 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Vy T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Đào Bảo L, sinh ngày 10/02/2919 cho bị đơn ông Đào Kim S trực tiếp nuôi dưỡng.

    Nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T và bị đơn Đào Kim S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T phải chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000891 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên nên hoàn lại cho nguyên đơn Nguyễn Thị Vy T 150.000đ.
  4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - CC THADS huyện Tây Hòa;
  • - VKSND huyện Tây Hòa;
  • - UBND xã Sơn Thành Tây;
  • - CNKH số 288/2017);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Kim Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger