TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 02 tháng 7 năm 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công
Các hội thẩm nhân dân: ông Phùng Văn Thông, ông Phan Duy Lục
Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Chín – Thẩm tra viên Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
tham gia phiên toà: bà Lê Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST - HS ngày 51 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1978
Nơi cư trú: thôn F, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn L và bà: Ngô Thị N; có vợ là Bùi Thị Đ; có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án,Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến 23/3/2024 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1964, vắng mặt
- + Anh Trần Văn L1, sinh năm 1978, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn E, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
- + Anh Lê Văn T, sinh năm 1984, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn P, sinh năm 1978, trú tại thôn F, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc không phải là đại lý bán vé xổ số của Công ty TNHH Một thành viên X, làm nghề lao động tự do tại địa phương. Do thấy nhiều người có nhu cầu mua số lô, số đề nên Pháp nảy sinh ý định mua bán số lô, số đề trái phép để thu lợi bất chính. Sáng ngày 19/3/2024, P đang ở nhà thì có Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; Trần Văn L1, sinh năm 1978 và Lê Văn T, sinh năm 1984, đều trú tại: xã Đ, huyện V đến nhà P chơi (D, T, L1 không đến nhà Pháp cùng một lúc). Quá trình nói chuyện biết D, T, L1 muốn mua số lô, số đề trái phép thì P đồng ý và thỏa thuận cách thức đánh bạc bằng hình thực mua bán số lô, số đề như sau: Cách tính thắng thua phụ thuộc vào kết quả của giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày. Số lô, số đề là 02 số tự nhiên trong dãy số từ 00 đến 99 do khách chọn. Mỗi một điểm lô Pháp bán cho khách với giá tiền là 22.000 đồng. Nếu số lô khách mua trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào (từ giải đặc biệt đến giải bảy) của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì khách sẽ thắng và được trả tiền thưởng theo tỷ lệ 01 điểm lô được 80.000 đồng. Trường hợp số lô khách mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thưởng thì số tiền khách được hưởng tương ứng cứ nhân lên theo số lần trùng lặp như vậy nhưng không được hưởng quá 03 lần (kép 3). Ngược lại, nếu khách thua (tức là số lô khách mua không trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào) thì P1 được hưởng số tiền mà khách dùng để mua số lô đó.Đối với số đề: Số đề loại 02 số là các số tự nhiên trong dãy số từ 00 đến 99, số đề loại 03 số (Ba càng) là các số tự nhiên trong dãy số từ 000 đến 999 do khách chọn, khi khách mua các số đề loại 02 số, loại 03 số thì Pháp khuyến mãi cho khách 25% tổng số tiền khách mua số đề, khách chỉ phải trả 75% tiền mua số đề đó, nếu số đề loại 02 số khách mua trung với 02 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì khách sẽ thắng và được P trả tiền thưởng theo tỷ lệ 1 ăn 70, nếu số đề loại 03 số khách mua trung với 03 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì khách sẽ thắng và được P trả tiền thưởng theo tỷ lệ 1 ăn 400, ngược lại nếu khách thua (tức là số đềloại 02 số khách mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt, số đềloại 03 số khách mua không trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt) thì P sẽ được hưởng toàn bộ số tiền mà khách đã mua số đề đó. Sau khi thỏa thuận với P xong thì D, T và L1 đi về, khi nào có nhu cầu mua số lô, số đề thì sẽ liên hệ nhắn tin với Pháp qua tài khoản zalo sau. P sử dụng tài khoản zalo có tên “Pháp” được đăng ký bằng số điện thoại 0392.009.xxx được cài đặt trên điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen để nhắn tin mua bán số lô, số đề.
Khoảng 17 giờ 07 phút ngày 19/3/2024 khi Bùi Văn P đang ở nhà thì nhận được tin nhắn của Nguyễn Văn D có tên tài khoản zalo là “Dung Bao” được đăng ký bởi số điện thoại 0392.009.xxx, với nội dung: “Để:96=150,55,81,82,86,92,63=30/1 số.” tức là D bảo Pháp bán cho D số đề 96 với lượng 150.000đ; các số đề 55, 81, 82, 86, 92, 63 mỗi số với lượng 30.000đ. Hồi 17 giờ 43 phút cùng ngày Pháp nhắn tin lại cho D với nội dung “1” tức là P đã nhận 01 tin nhắn của anh D và đồng ý bán cho D các số đề. Tổng số tiền D mua các số đề trái phép của Pháp nêu trên là 330.000đ. Do P khuyến mãi cho D 25% số tiền mua các số đề nêu trên nên D chỉ phải trả cho P 75% số tiền đã mua tương ứng là 247.500đ. D chưa trả tiền cho P.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 19/3/2024, Bùi Văn P nhận được tin nhắn zalo của Lê Văn T có tài khoản zalo là “T” được đăng ký bởi số điện thoại 0978.126.xxx, với nội dung: “Ghi cho, 39, 93, môi con 50 điêm” tức là T bảo Pháp bán cho T các số lô 39, 93 mỗi số với lượng 50 điểm. Hồi 17 giờ 46 phút cùng ngày Pháp nhắn tin lại cho T với nội dung “1” tức là P đã nhận 01 tin nhắn của T và đồng ý bán cho anh T các số lô nêu trên.Tổng số điểm lô T mua của P là 100 điểm tương ứng với số tiền 2.200.000đ. T chưa trả tiền cho P.
Khoảng 17 giờ 49 phút Bùi Văn P nhận được tin nhắn zalo của anh Trần Văn L1 có tên tài khoản là “Ban Luong” được đăng ký số điện thoại 0327.332.xxx, nội dung: “L 232 292 595 10d 1s” và “L 252 797 090 020..10d 1s" tức là L1 bảo Pháp bán cho L1 các số lô 23, 32, 29, 92, 59, 95, 25, 52, 79, 97, 09, 90, 02, 20 mỗi số với lượng 10 điểm. Hồi 17 giờ 49 phút cùng ngày Pháp nhắn tin lại cho L1 với nội dung “2” tức là Pháp đã nhận 02 tin nhắn của L1 và đồng ý bán cho L1 các số lô mà L1 hỏi mua của Pháp nêu trên. Tổng số điểm lô L1 mua trái phép của Pháp là 140 điểm tương ứng với số tiền 3.080.000đ. L1 chưa trả tiền cho P.
Tổng số tiền P bán trái phép số lô, số đề cho D, T, L1 là 5.610.000 đồng, trong đó tiền lô là 5.280.000 đồng, tiền đề là 330.000 đồng. Do P khuyến mại cho khách 25% tiền đề nên số tiền D, T, L1 phải trả cho P là 5.527.500 đồng.
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 19/3/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Bùi Văn P có hoạt động đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin trên theo quy định. Bùi Văn P thừa nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã lập biên bản sự việc và tiến hành thu giữ vật chứng: Thu giữ của Bùi Văn P 01 chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen, có số Imei 1: 860253060368028, Imei 2: 860253060368036, có mật khẩu mở khóa màn hình là 110979, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000017998107 (Sim điện thoại trên mang số thuê bao 0392009127), điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A7 (2018), màu nâu, có số Imei 1: 351580104093493, Imei 2: 351581104093491, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0327332272 của Trần Văn L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 20 Ultra, màu đen, có số Imei 1: 352682500565558, Imei 2: 359646200566559, bên trong có gắn 02 thẻ sim, trong đó trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Vinaphone 89840200011210674865, trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Viettel 8984048000072063346 của Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A34 5G, màu trắng, có số Imei 1: 352879325839646, Imei 2: 353339565839649, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0978126659 của Lê Văn T.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 623, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 20 Ultra, màu đen, có số Imei 1: 352682500565558, Imei 2: 359646200566559, bên trong có gắn 02 thẻ sim, trong đó trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Vinaphone 89840200011210674865, trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Viettel 8984048000072063346 tạm giữ của Nguyễn Văn D.Ngày 23/4/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã ra Kết luận giám định số 1087/KL-KTHS, theo đó kết luận:
- Khôi phục, trích xuất được dữ liệutrong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định, kết quả thu được:
+ 52 tin nhắn SMS, 137 tin nhắn zalo. Toàn bộ dữ liệu nêu trên được thể hiện trong Phụ lục giám định.
+ Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên. H lại đối tượng gửi giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 624, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen, có số Imei 1: 860253060368028, Imei 2: 860253060368036, có mật khẩu mở khóa màn hình là 110979, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000017998107 (Sim điện thoại trên mang số thuê bao 0392009127), điện thoại cũ và đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Văn P.Ngày 23/4/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã ra Kết luận giám định số 1088/KL- KTHS, theo đó kết luận:
- Khôi phục, trích xuất được dữ liệutrong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định, kết quả thu được:
+ Không tìm thấy tin nhắn SMS, tin nhắn M.
+ Chụp được 10 ảnh chụp màn hình điện thoại thể hiện nội dung tin nhắn ứng dụng Zalo. Toàn bộ dữ liệu nêu trên được thể hiện trong Phụ lục giám định.
+ Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên. H lại đối tượng gửi giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V.
Qua nghiên cứu kết luận giám định thể hiện: Ảnh chụp tin nhắn ứng dụng zalo của Bùi Văn P có tin nhắn mua bán số đề trái phép với tài khoản zalo có tên “Dung Bao” được đăng ký bằng số điện thoại 0373.024.xxx; tài khoản zalo có tên “Ban Luong”, được đăng ký bằng số điện thoại 0327.332.xxx và tài khoản zalo có tên “T”, được đăng ký bằng số điện thoại 0978.126.xxx.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 625, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A7 (2018), màu nâu, có số Imei 1: 351580104093493, Imei 2: 351581104093491, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0327332272, điện thoại cũ và đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn L1.Ngày 23/4/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã ra Kết luận giám định số 1089/KL- KTHS, theo đó kết luận:
- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, tin nhắn ứng dụng Messenger trên mẫu vật gửi giám định.
- Chụp được 03 (ba) ảnh chụp màn hình thể hiện hai tệp hình ảnh lưu trữ trong mẫu vật, toàn bộ ảnh được thể hiện trong Phụ lục.
- Kèm theo kết luận giám định là 01 phụ lục có chữ ký của giám định viên. H lại đối tượng gửi giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 626, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A34 5G, màu trắng, có số Imei 1: 352879325839646, Imei 2: 353339565839649, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0978126659, điện thoại cũ và đã qua sử dụng thu giữ của Lê Văn T.Ngày 23/4/2024, Phòng K Công an tỉnh V đã ra Kết luận giám định số 1090/KL- KTHS, theo đó kết luận:
- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo, tin nhắn ứng dụng Messenger trên mẫu vật gửi giám định.
- Kèm theo kết luận giám định: Không. H lại đối tượng gửi giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V.
Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thông báo các Kết luận giám định nêu trên cho Bùi Văn P là bị can, Nguyễn Văn D, Trần Văn L1, Lê Văn T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết thì tất cả những người trên đều đồng ý, không ai có ý kiến thắc mắc gì
Ngày 09/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu số 1105/YC- ĐCSHS, yêu cầu Ban thanh tra, Kiểm toán- Tập đoàn C cung cấp thông tin về chủ thuê bao đối với các số điện thoại gồm: 0392.009.xxx, 0327332272, 0978126659, 0373024888.Ngày 22/4/2024, Ban thanh tra, Kiểm toán - Tập đoàn C đã có Công văn phúc đáp với nội dung: Thông tin chủ thuê bao của số điện thoại 0392.009.xxx là Bùi Văn P, chủ thuê bao số điện thoại 0327.332.xxx là Trần Văn L1, chủ thuê bao của số điện thoại 0978.126.xxx là Lê Văn T, chủ thuê bao của số điện thoại 0373.024.xxx là Nguyễn Văn D.
Hành vi Pháp bán số lô, số đề trái phép cho D, T, L1 bị Cơ quan điều tra phát hiện trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 19/3/2024 nên tổng số tiền Pháp bằng hình thức mua bán số lô, số đề trái phép vào ngày 19/3/2024 được xác định là 5.610.000đ. Pháp tự ghi số lô, số đề trái phép, không làm thư ký cho chủ lô, đề nào. Pháp được tiền khi thắng và tự trả thưởng khi thua. Lời khai của bị can, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Đối với Nguyễn Văn D, Lê Văn T, Trần Văn L1 là người đã mua các số lô, số đề trái phép của Bùi Văn P vào ngày 19/3/2024, cụ thể: Nguyễn Văn D mua số đề với số tiền 330.000 đồng; Lê Văn T mua số lô với số tiền 2.200.000 đồng; Trần Văn L1 mua số lô với tổng số tiền là 3.080.000 đồng, đều dưới 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm những người này không có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc quy định tại các Điều 321 và Điều 322- Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi trên của D, T và L1 nêu trên không cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321- Bộ luật hình sự. Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên của D, T và L1 theo quy định pháp luật là phù hợp.
* Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen, có số Imei 1: 860253060368028, Imei 2: 860253060368036, có mật khẩu mở khóa màn hình là 110979, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000017998107 (Sim điện thoại trên mang số thuê bao 0392009127) thu giữ của Bùi Văn P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A7 (2018), màu nâu, có số Imei 1: 351580104093493, Imei 2: 351581104093491, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0327332272 thu giữ của Trần Văn L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 20 Ultra, màu đen, có số Imei 1: 352682500565558, Imei 2: 359646200566559, bên trong có gắn 02 thẻ sim, trong đó trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Vinaphone 89840200011210674865, trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Viettel 8984048000072063346 thu giữ của Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A34 5G, màu trắng, có số Imei 1: 352879325839646, Imei 2: 353339565839649, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0978126659 thu giữ của Lê Văn T. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên là củaPháp, D, T và L1. Ngày 19/3/2024 các đối tượng sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép.
Đối với số tiền 330.000đ là tiền Nguyễn Văn D đã mua các số đề trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa thanh toán cho P; số tiền 2.200.000₫ là tiền Lê Văn T đã mua các số lô trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa trả cho P; số tiền 3.080.000₫ là tiền Trần Văn L1 đã mua các số lô trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa trả cho P. Quá trình điều tra xác định, số tiền trên là tiền được sử dụng vào việc đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trái phép nhưng chưa thanh toán được với nhau. Cơ quan điều tra đã yêu cầu D, T, L1 giao nộp lại số tiền trên nhưng đến nay D, T, L1 vẫn chưa có tiền để nộp.
Cáo trạng số: 68/CT-VKSVT ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Bùi Văn P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- - Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Đánh bạc”
- - Xử phạt bị cáo: từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000₫ sung ngân sách nhà nước.
Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn P khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận đã đánh bạc bằng hình thức chơi, ghi số lô, số đề với số tiền 5.610.000đ như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của chính bị cáo; bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người chơi số lô, số đề; lời khai của người chứng kiến, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
3. Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải đưa ra xử lý trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố đẻ bị cáo là người có công, được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo lần đầu có hành vi vi phạm pháp luật, nhất thời phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc ít. Do vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nhất định nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục cũng đủ để dăn đe, phòng ngừa.
4. Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có công việc, thu nhập, tuổi đời còn trẻ nên cần phạt bị cáo một khoản tiền nhất định sung ngân sách nhà nước.
5. Đối với Nguyễn Văn D, Lê Văn T, Trần Văn L1 là người đã mua các số lô, số đề trái phép của Bùi Văn P vào ngày 19/3/2024, cụ thể: Nguyễn Văn D mua số đề với số tiền 330.000 đồng; Lê Văn T mua số lô với số tiền 2.200.000 đồng; Trần Văn L1 mua số lô với tổng số tiền là 3.080.000 đồng, đều dưới 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm những người này không có tiền án, tiền sự về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc quy định tại các Điều 321 và Điều 322- Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi trên của D, T và L1 nêu trên không cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên của D, T và L1 theo quy định pháp luật là phù hợp.
6. Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen, có số Imei 1: 860253060368028, Imei 2: 860253060368036, có mật khẩu mở khóa màn hình là 110979, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000017998107 (Sim điện thoại trên mang số thuê bao 0392009127) thu giữ của Bùi Văn P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A7 (2018), màu nâu, có số Imei 1: 351580104093493, Imei 2: 351581104093491, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0327332272 thu giữ của Trần Văn L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 20 Ultra, màu đen, có số Imei 1: 352682500565558, Imei 2: 359646200566559, bên trong có gắn 02 thẻ sim, trong đó trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Vinaphone 89840200011210674865, trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Viettel 8984048000072063346 thu giữ của Nguyễn Văn D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A34 5G, màu trắng, có số Imei 1: 352879325839646, Imei 2: 353339565839649, bên trong có gắn 01 thẻ sim mang số thuê bao 0978126659 thu giữ của Lê Văn T. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên là củaPháp, D, T và L1. Ngày 19/3/2024 các đối tượng sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép. Do vậy cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước đối với 04 chiếc điện thoại thu giữ của Pháp, D, T và L1. Đối với những thẻ sim do P và D, T, L1 không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với số tiền 330.000đ là tiền Nguyễn Văn D đã mua các số đề trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa thanh toán cho P; số tiền 2.200.000đ là tiền Lê Văn T đã mua các số lô trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa trả cho P; số tiền 3.080.000₫ là tiền Trần Văn L1 đã mua các số lô trái phép của Pháp vào ngày 19/3/2024 nhưng chưa trả cho P. Quá trình điều tra xác định, số tiền trên là tiền được sử dụng vào việc đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trái phép nhưng chưa thanh toán được với nhau. Cơ quan điều tra đã yêu cầu D, T, L1 giao nộp lại số tiền trên nhưng đến nay D, T, L1 vẫn chưa có tiền để nộp. Vì vậy, cần truy thu của D, T, L1 số tiền nêu trên để sung quỹ Nhà nước.
7. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 47; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt Bùi Văn P: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn P cho UBND xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87, Điều 93 Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Văn P 15.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A7 (2018), màu nâu; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 20 Ultra, màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A34 5G, màu trắng.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ sim điện thoại có in hàng số 8984048000017998107 (số thuê bao 0392009127); 01 thẻ sim mang số thuê bao 0327332272; 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Vinaphone 89840200011210674865, trên 01 thẻ sim có in hàng chữ số 4G Viettel 8984048000072063346; 01 thẻ sim mang số thuê bao 0978126659.
(tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).
- - Truy thu sung ngân sánh nhà nước: Nguyễn Văn D số tiền 330.000đ; Lê Văn T số tiền 2.200.000đ; Trần Văn L1 số tiền 3.080.000đ.
- Về án phí: Bùi Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thành Công |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự, tội đánh bạc
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự, Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án Bùi Văn P
