Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày: 28/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại

Các thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng

Ông Nguyễn Hữu Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Hùng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Văn B do có kháng cáo của bị cáo B đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Văn B, sinh năm 1996; nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Vũ Thị H, đều sinh năm 1972; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Mai Thị H1, sinh năm 1998 và có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số hình sự sơ thẩm số: 273/2024/HS-ST ngày 09/9/2024 của TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt B 30 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn B:

Ông Phạm Tiến Q - Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Mai Thị H1, sinh năm 1998

Nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1983 - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Trại tạm giam - Công an tỉnh B.

Trong vụ án này còn có bị cáo Hoàng Đình T có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với T; các bị cáo Trần Văn P, Nguyễn Văn H2 và Võ Văn C1 do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn B có mối quan hệ quen biết với Hoàng Đình T từ cuối năm 2023. Khoảng 20 giờ 00 ngày 15/01/2024, B gọi điện thoại cho T hỏi T đang ở đâu để B mang mẫu vải cho T xem và rủ T đi chơi bi-a. T bảo B đến nhà T tại thôn N, thị trấn C, huyện Y.

Sau đó, B rủ Võ Văn C1, Đỗ Văn D sinh năm 1988 (trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) và Nguyễn Văn H2 (C1, D và H2 đều có chỗ ở hiện nay tại ngõ I phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội) đi đánh bi-a với T. C1, D và H2 đồng ý. B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 36C-343.22 màu đen của B chở C1, H2 và D đến nhà T ở N, thị trấn C. Tại đây, B và T rủ nhau đi đánh bi-a được thua bằng tiền và thống nhất đánh chẵn lẻ theo cặp; sau đó T rủ Trần Văn P (P là em vợ của T và hiện đang ở cùng nhà T) đi đánh bi-a được thua bằng tiền với nhóm của B. P đồng ý. B, T, P, H2 thống nhất: T cặp với P, Bình cặp với H2 để đánh bi-a ăn tiền. C1 biết việc T, P, B, H2 rủ nhau đánh bi-a ăn tiền nhưng vẫn đi cùng. Sau đó, B điều khiển xe ô tô của B chở H2, C1 và D, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 36C-347.09 của T chở P đến quán B2 tại thôn P, thị trấn C, huyện Y do anh Nguyễn Văn M, làm chủ. Tại đây, các đối tượng đánh bi-a ăn tiền tại bàn số 01 ở bên trái theo chiều từ ngoài cửa quán đi vào từ khoảng 23 giờ ngày 15/01/2024 đến 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2024 thì nghỉ không chơi nữa. Ban đầu, T và B thống nhất đánh bi-a được thua trả tiền mặt, mỗi ván 500.000 đồng. B có 4.000.000 đồng và T có 3.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc. Sau đó, tăng lên được thua 1.000.000 đồng/ván, rồi 3.000.000 đồng/ván. Cụ thể, không nhớ số ván đánh trả tiền mặt.

Đến khoảng gần 02 giờ 30 ngày 16/01/2024, T và B thống nhất tăng số tiền đánh bạc lên 5.000.000 đồng/ván, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản tiền qua tài khoản ngân hàng. T sử dụng điện thoại di động Iphone XS max lắp sim số 0398.529.999 để chuyển khoản tiền được thua khi đánh bạc với B, qua ứng dụng chuyển tiền V từ tài khoản ngân hàng S thuộc Ngân hàng TMCP C3 của T. B sử dụng điện thoại di động Iphone XS max số IMEI 35727409764741 để chuyển tiền khoản tiền được thua khi đánh bạc với T, qua ứng dụng chuyển tiền A từ 02 số tài khoản là 909706636 và 38592527 của B thuộc Ngân hàng TMCP Á.

Quá trình đánh bi-a ăn tiền bằng hình thức chuyển khoản, T - P cùng B - H2 đánh 05 ván bi-a được thua bằng tiền 5.000.000 đồng/ván, rồi tiếp tục đánh 15 ván bi-a ăn tiền 10.000.000 đồng/ván. Khi kết thúc ván thứ tư trong 15 ván bi-a 10.000.000 đồng/ván, ván này T - P thua B - H2, do điện thoại của B hết pin nên B nhờ C1 nhận tiền thua mà T thanh toán. Mặc dù biết số tiền này là tiền thắng bi-a có được của B - H2 nhưng C1 vẫn đồng ý nhận chuyển khoản số tiền này từ T. Khoảng 04 giờ 41 phút ngày 16/01/2024, T chuyển số tiền 10.000.000 đồng thua bi-a từ số tài khoản 108876827670 Ngân hàng TMCP C3 của T đến số tài khoản 0383908595, thuộc ngân hàng TMCP Q1 của C1.

C1 sử dụng số tài khoản 0383908595 thuộc ngân hàng TMCP Q1 của C1 để nhận chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng từ số tài khoản 108876827670 Ngân hàng TMCP C3 của T chuyển đến. Sau đó, khoảng 05 giờ 00 phút, khi kết thúc ván thứ bảy trong 15 ván bi-a 10.000.000 đồng/ ván thì B - H2 thua T - P. B bảo C1 chuyển lại 10.000.000 đồng thắng bi-a trước đó đã chuyển vào tài khoản của C1 cho T. C1 đồng ý rồi C1 chuyển 10.000.000 đồng từ tài khoản 0383908595 của C1 đến tài khoản của T nêu trên.

Sau khi đánh 15 ván bi-a 10.000.000 đồng/ván, T và B thống nhất tăng tiền cược lên 15.000.000 đồng/ván. Trong thời gian đánh các ván bi-a này, có 02 lần sau khi hết ván, vào lúc 06 giờ 17 phút và 06 giờ 33 phút ngày 16/01/2024, C1 là người nhặt bị ở các lỗ xếp lên bàn cho các đối tượng đánh ván mới. Ngoài ra, khi H2 đi vệ sinh thì H2 có nhờ C1 cầm gậy bi-a đánh hộ vào thời điểm 06 giờ 34 phút 25 giây cùng ngày, C1 cầm gậy bi-a và đánh 02 lần với T - P. Ván đánh này tỷ lệ cược là 15.000.000 đồng/ván. Sau khi các đối tượng đánh 19 ván bi-a 15.000.000 đồng/ván thì T và B thống nhất tăng tiền cược lên 20.000.000 đồng/ván, tổng số ván đánh là 50 ván.

Đến khoảng 07 giờ 00 ngày 16/01/2024, C1 và D đi về trước, còn B, H2, T và P tiếp tục đánh bi-a đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Tổng số ván bi-a mà B - H2 và T - P đánh thông qua chuyển khoản là 104 ván. Kết quả: B - H2 thua T - P số tiền 230.000.000 đồng.

Khi đánh bạc, B sử dụng 02 tài khoản 909706636 và 038592527 để thanh toán tiền được thua với T. Tại thời điểm trước khi đánh bạc, số dư trong tài khoản 909706636 là 915.807.208 đồng, còn số dư trong tài khoản 038592527 là 1.912.278 đồng. Trong đó, ván thua đầu tiên B sử dụng tài khoản 909706636 chuyển 5.000.000 đồng vào tài khoản 108876827670 của T. Sau đó, B chuyển khoản 02 lần từ tài khoản 909706636 sang tài khoản 038592527, lần đầu 200.000.000 đồng và lần sau chuyển 100.000.000 đồng để đánh bạc với T, rồi dùng tiền trong tài khoản 038592527 thanh toán thắng thua với T cho đến khi kết thúc trận bi-a. Trong quá trình đánh bạc, có 01 lần B chuyển số tiền 2.000.000 đồng để thanh toán tiền mua bán hàng hóa. Khi các đối tượng ngừng đánh bạc, số dư tài khoản 038592527 của B còn lại là 74.912.278 đồng.

Khi đánh bạc, T sử dụng tài khoản 108876827670 để thanh toán tiền được thua với B. Tại thời điểm trước khi đánh bạc, số dư trong tài khoản của T là 105.067.455. Khi ngừng đánh bạc, trong tài khoản này của T có số dư 335.067.455 đồng.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của T, P, B, H2, C1 là: 7.000.000 đồng tiền mặt + 1.912.278 đồng trong tài khoản 038592527 của B + 305.000.000 đồng trong tài khoản 909706636 của B - 2.000.000 đồng (tiền B mua bán hàng hóa) + 105.067.455 đồng trong tài khoản của T = 416.979.733 đồng.

Sau khi nghỉ không đánh nữa, T thanh toán cho anh M chủ quán 1.100.000 đồng tiền bàn và không chia cho P số tiền nào. Sau đó, các đối tượng đi về. Sau đó B cho C1 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max, số IMEI 35727409764741.

Đến ngày 05/3/2024, anh Nguyễn Văn M có đơn trình báo về việc nghi ngờ nhóm T, H2, P, B, C1 có hành vi đánh bi-a ăn tiền vào ngày 15 và ngày 16/01/2024 tại quán B2 của anh M. Đồng thời giao nộp 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của quán ghi lại quá trình đánh bi-a của các đối tượng và 01 chiếc bàn bi a nhãn hiệu Alex, 16 viên bi a (15 viên bi a được đánh số từ 1 đến 15 và 01 viên bị màu trắng không có số được gọi là bị cái) và 04 chiếc gậy chọc bi a.

Nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, ngày 05/3/2024, Đỗ Văn B và Nguyễn Văn H2 đến Công an huyện Y đầu thú.

Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Hoàng Đình T, Đỗ Văn B, Trần Văn P, Nguyễn Văn H2 và Võ Văn C1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Văn B 42 tháng tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 09 và 10/7/2024, bị cáo Đỗ Văn B và Hoàng Đình T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 14/9/2024, bị cáo Hoàng Đình T có đơn xin rút nội dung đã kháng cáo, chấp nhận quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Văn B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình nộp toàn bộ số tiền đánh bạc, tiền phạt và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo đã khai ra hành vi đánh bi-a ăn tiền vào ngày 18/01/2024 tại thành phố B để cơ quan điều tra thành phố B khởi tố vụ án và khởi tố bị can và Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử vào ngày 09/9/2024. Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Chị Mai Thị H1 là vợ bị cáo trình bày: ngày 29/7/2024 và ngày 20/9/2024 chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Yên Phong số tiền 89.012.287đ cho B để nộp tiền truy thu đánh bạc, tiền phạt, án phí. Chị không yêu cầu B phải trả lại số tiền trên, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa như: Chị H1 là vợ bị cáo đã nộp thay toàn bộ số tiền đánh bạc, tiền phạt, tiền án phí sơ thẩm, bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, đề nghị sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo 03 tháng tù, còn 39 tháng tù giam.

Luật sư Phạm Tiến Q phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo B: nhất trí với tội danh và hình phạt mà Tòa án nhân dân huyện Yên phong đã xét xử đối với bị cáo. Tuy nhiên luật sư cho rằng hành vi đánh bạc của bị cáo vào ngày 15 và ngày 16/01/2024 tại Y và hành vi đánh bạc vào ngày 18/01/2024 tại thành phố B đều xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nhưng cơ quan điều tra lại tách thành 02 vụ án độc lập để điều tra, truy tố, xét xử riêng là bất lợi cho bị cáo, đề nghị nhập 02 vụ án trên thành 01 vụ án để xét xử. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như vợ bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền đánh bạc, tiền phạt, án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, có ông nội được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo có hành vi tố giác tội phạm đánh bi-a ăn tiền sảy ra tại thành phố B vào ngày 18/01/2024 đã được cơ quan điều tra thành phố B khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử vào ngày 09/9/2024. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 03 tháng tù là quá nghiêm khắc. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với luật sư không nhất trí với việc nhập 02 vụ án thành một vụ vì: 02 vụ án trên xảy ra vào thời gian khác nhau, địa bàn khác nhau và đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Phong và Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm. Giữ nguyên đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo 03 tháng tù là phù hợp.

Bị cáo Đỗ Văn B, chị Mai Thị H1 đồng ý với quan điểm của Luật sư bào chữa, không bổ sung gì thêm, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo Hoàng Đình T và Đỗ Văn B có kháng cáo hợp lệ. Do bị cáo Hoàng Đình T tự nguyện rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa nên Tòa án cấp phúc thẩm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo T là đúng quy định pháp luật.

[2]. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Văn B có mặt hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của B phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 23h ngày 15/01/2024 đến 14h30' ngày 16/01/2024, tại quán B2 ở thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Văn M làm chủ, Hoàng Đình T, Trần Văn P, Đỗ Văn B, Nguyễn Văn H2 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bi-a được thua bằng tiền. Khi các đối tượng đánh bi-a ăn tiền, Võ Văn C1 biết nhưng vẫn đồng ý sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để nhận, chuyển tiền đánh bạc giúp B 02 lần với số tiền 20.000.000 đồng; 02 lần xếp bị để các đối tượng đánh bạc và trực tiếp cầm gậy đánh bi-a hộ H2 01 ván, giúp sức cho các đối tượng đánh bạc. Tổng số tiền T, P, B, H2, C1 đánh bạc là 416.979.733 đồng. Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét quan điểm bào chữa của Luật sư tại phiên tòa và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn B, HĐXX thấy rằng:

Các bị cáo Hoàng Đình T và Đỗ Văn B ngoài việc đánh bạc ngày 15 và 16/01/2024 tại huyện Y, tỉnh Bắc Nình thì sau đó đến ngày 18/01/2024 lại tiếp tục đánh bạc dưới hình thức chơi bi-a được thua bằng tiền tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay cả 02 vụ án đều đã xét xử sơ thẩm. T và B thực hiện việc đánh bạc tại 02 khoảng thời gian và 02 địa điểm khác nhau nên việc tiến hành điều tra, truy tố, xét xử độc lập với nhau là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Không có căn cứ để nhập vụ án như trình bày của Luật sư tại phiên tòa.

Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt 42 tháng tù đối với bị cáo B là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, luật sư xuất trình hóa đơn nộp tiền truy thu đánh bạc, tiền phạt và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm là 89.112.278đ và bản sao Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông nội bị cáo là ông Đỗ Văn C2. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn B, sửa án án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn B, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt:

Đỗ Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù kể từ ngày 05/3/2024. Phạt bổ sung Đỗ Văn B 20.000.000đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

(Xác nhận bị cáo Đỗ Văn B đã nộp số tiền 200.000đ tại biên lai thu số 0000853 ngày 29/7/2024 và 88.912.287đ tại biên lai thu số 0000896 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

Quyết định tạm giam bị cáo Đỗ Văn B 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQĐT; VKS; TAND huyện Yên Phong;
  • - Bị cáo; đương sự (qua đường công văn);
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger