TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 62/2025/HSST Ngày: 14/3/2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Bé.
- Ông Võ Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 308/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐST-HS ngày 14/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2025/QĐST-HS, ngày 28/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị T, T1 gọi khác: không có.
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 09/3/2023.
Giới tính: Nữ; Sinh năm 1980, tại tỉnh Hà Tĩnh.
Nơi thường trú: Tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.
Tạm trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân.
Cha: Đặng Đôn T2, sinh năm: 1944; Mẹ: Bùi Thị H, sinh năm: 1952.
Anh chị em ruột: 04 người (kể cả bị cáo)
Chồng, con: Không có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2025.
Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1957; (vắng mặt)
Thường trú: Số C, đường C, tổ E, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn T3, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Tiệm V1, số A Quốc lộ B, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, Đặng Thị T đến tiệm V1; địa chỉ số B N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T đứng ghi giấy nhờ anh Lê Tấn V chuyển tiền. Cùng lúc này, bà Đỗ Thị H1 đi đến cạnh vị trí T rồi lấy từ trong túi màu đỏ ra một nhẫn vàng trơn loại vàng 9999 để lên mặt tủ kính định bán cho tiệm, lợi dụng sự sơ hở của bà H1, T lén lút dùng tay trái lấy nhẫn vàng trơn loại vàng 9999 cầm trong bàn tay, rồi lén lút đi về phòng trọ. Bà H1 phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an xã T trình báo. Qua trích xuất camera tại tiệm V1, Công an phát hiện nghi vấn Đặng Thị T có hành vi lấy trộm chiếc nhẫn vàng của bà H1 nên Công an xã T mời Đặng Thị T về trụ sở làm rõ và T khai nhận có chiếm đoạt một chiếc nhẫn trơn vàng 9999 của bà H1 như nêu trên. Sau đó, T mang nhẫn vàng đến tiệm V1; địa chỉ: số A Quốc lộ B, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho chủ tiệm vàng là anh Võ Văn T4 được số tiền 6.200.000 đồng, T tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.400.000 đồng, số tiền 3.800.000 đồng còn lại T tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an.
Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 nhẫn vàng 9999 trọng lượng 01 chỉ, có giá trị 6.415.000 đồng (bút lục 55-58).
Vật chứng vụ án:
- 01 Áo khoác màu nâu, 01 váy bông trắng đen, 01 nón lá (đã qua sử dụng).
- Số tiền 3.800.000 đồng tạm giữ của Đặng Thị T do bán nhẫn trộm cắp mà có.
Vật chứng hiện đang bảo quản tại kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 288/CT-VKSCC ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Đặng Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/01/2024 tại tiệm V1; địa chỉ số B N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Thị T đã lén lút chiếm đoạt 01 nhẫn vàng loại 9999, có giá trị 6.415.000 đồng của bà Đỗ Thị H1. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đã bồi thường, khắc phục hậu quả; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; Tiền án, tiền sự: không. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 09 tháng tù đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 Áo khoác màu nâu, 01 váy bông trắng đen, 01 nón lá.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 3.800.000 đồng tạm giữ của Đặng Thị T do bán nhẫn trộm cắp mà có.
Bị cáo không tranh luận, không trình bày gì thêm.
2
Lời nói sau cùng:
Bị cáo trình bày: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/01/2024 tại tiệm V1; địa chỉ số B N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Thị T đã lén lút chiếm đoạt 01 nhẫn vàng loại 9999; Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 nhẫn vàng 9999 trọng lượng 01 chỉ, có giá trị 6.415.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Thị T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật; Trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, không đăng ký cư trú, tạm trú theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Tiền án, tiền sự: không. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Đối với ông Võ Văn T3 không biết nhẫn vàng bị cáo T bán cho ông là do phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C không khởi tố bị can, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại bà Đỗ Thị H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố bà H1, ông T3 không có yêu
3
cầu gì đối với bị cáo; Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và thông báo cho bà H1, ông T3 biết về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa xét xử đối với bị cáo T nhưng bà H1, ông T3 vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bà H1, ông T3 không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên vẫn tiến hành xét xử đối với bị cáo T. Sau này nếu bà H1, ông T3 có yêu cầu gì khác đối với bị cáo T thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về vật chứng:
- Đối với 01 Áo khoác màu nâu, 01 váy bông trắng đen, 01 nón lá (đã qua sử dụng); Là vật chứng không có trị sử dụng. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với Số tiền 3.800.000 đồng tạm giữ của Đặng Thị T do bán nhẫn trộm cắp mà có, bị cáo không có ý kiến gì về số tiền này, do đó Hội đồng xét xử xét thấy tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước là phù hợp.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 288/CT-VKSCC ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo T theo điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí:
Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 Áo khoác màu nâu, 01 váy bông trắng đen, 01 nón lá (đã qua sử dụng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).
Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 133/PNK ngày 28/02/2025 và Lệnh nhập kho vật chứng số: 2033/LNK-ĐTTH, ngày 06/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Án phí HS-ST: Bị cáo Đặng Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Đặng Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bà H1, ông T3 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
4
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Phan Hùng Vương |
5
Bản án số 62/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 62/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Thị T phạm tội Trộm cắp tài sản
