Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST Ngày: 28-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Đoan Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Bùi Thị Bích Liên
  • Ông Nguyễn Vinh Quang

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 03/10/1991 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng S và bà Nguyễn Thị G; có chồng là Lưu Quang H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 20/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Sái Văn N, sinh năm 1990; trú tại: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
  • Anh Đào Tiến D, sinh năm 1997; trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1984; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
  • Chị Hoàng Thị Ư, sinh năm 1972; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2023, Nguyễn Thị Thúy H thuê cửa hàng để kinh doanh buôn bán, cho thuê quần áo tại số B đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình hoạt động kinh doanh, H thấy nhiều người có nhu cầu vay tiền nên đã nảy sinh ý định cho người khác vay tiền để thu tiền lãi. H khai nhận thì khi bắt đầu hoạt động cho vay lãi thì H sử dụng số vốn ban đầu là 65.000.000₫ để cho những người có nhu cầu vay tiền, sau khi thu được tiền lãi và tiền gốc vay của người vay ban đầu thì H tiếp tục sử dụng quay vòng cho những người khác vay. Khi cho vay tiền thì H trực tiếp gặp người vay hoặc sử dụng điện thoại để gọi điện, nhắn tin (SMS, Z, M...) trao đổi, thỏa thuận số tiền vay, mức lãi suất và nhắc nhở người vay đóng tiền lãi khi đến thời hạn trả lãi. H không yêu cầu người vay phải viết giấy vay tiền, giấy nhận nợ hay cầm cố tài sản, giấy tờ để đảm bảo khoản vay mà chỉ sử dụng việc nhắn tin với người vay để xác nhận các khoản vay và thời gian trả tiền lãi. Sau khi cho vay tiền thì theo kỳ hạn 01 tháng người vay trực tiếp đến gặp H đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền đến tài khoản số [...] của H mở tại Ngân hàng TMCP C (V1) để trả tiền lãi cho các khoản vay.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V nhận được tố giác Nguyễn Thúy H có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã triệu tập làm việc với Nguyễn Thị Thúy H. Tại cơ quan điều tra H đã thành khẩn khai nhận về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone16 Promax màu hồng có IMEI số 351613329189893, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim điện thoại số 0968.039.xxx để phục vụ hoạt động điều tra.

Kết quả điều tra xác định trong khoảng thời gian từ năm 2023 cho đến khi bị Cơ quan điều tra phát hiện, Nguyễn Thị Thúy H đã trực tiếp cho 04 người vay tiền với mức lãi suất từ 120%/năm đến 146%/năm. Cụ thể như sau:

  • Ngày 16/01/2023, anh Sái Văn N, sinh năm 1990 ở tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay H số tiền 30.000.000₫ với lãi suất 3.000.000đ/1 tháng (tương đương 120%/năm), H cắt trước tiền lãi tháng vay đầu tiên và sử dụng tài khoản 100006463360 tại Ngân hàng V1 chuyển khoản số tiền 27.000.000đ vào tài khoản 0361000328095 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V2) của anh N. Sau khi vay tiền, anh N đã trả đủ tiền lãi cho khoản vay trên đến hết ngày 16/04/2023 (03 tháng) với tổng số tiền 9.000.000đ. Ngày 14/4/2023, anh N chuyển khoản số tiền 30.000.000đ vào tài khoản của H để trả khoản tiền gốc.
  • Ngày 03/06/2023, anh N tiếp tục vay H số tiền 30.000.000đ với lãi suất 3.000.000đ/1 tháng (tương đương 120%/năm), H cắt trước tiền lãi tháng vay đầu tiên và sử dụng tài khoản 100006463360 tại Ngân hàng V1 chuyển khoản số tiền 27.000.000đ vào tài khoản 0361000328095 tại V2 của anh N. Sau khi vay tiền anh N đã trả đủ khoản tiền lãi của khoản vay trên đến hết ngày 03/10/2023 với tổng số tiền lãi đã trả là 12.000.000đ. Ngày 22/9/2023, anh N đã chuyển khoản số tiền 30.000.000đ vào tài khoản của H để trả khoản tiền gốc.

Như vậy đối với 02 khoản vay trên anh N đã trả cho H được tổng số tiền lãi là 21.000.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất được thu theo quy định (20%/năm quy định tại Điều 468 – Bộ luật Dân sự năm 2015) là 3.500.000đ, tiền thu lời bất chính là 17.500.000₫.

  • Ngày 19/4/2023, anh Đào Tiến D, sinh năm 1997 ở thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vay H số tiền 25.000.000đ với lãi suất 2.500.000đ/1 tháng (tương đương 120%/năm). Khi vay tiền, H không yêu cầu anh D phải viết giấy biên nhận vay tiền hay thế chấp giấy tờ, tài sản gì mà cắt tiền lãi tháng đầu. Sau đó, H sử dụng tài khoản 100006463360 tại V1 chuyển 22.500.000đ vào tài khoản 19037215493018 tại Ngân hàng TMCP K (T1) của anh D. Sau khi vay tiền anh D đã trả đủ tiền lãi của khoản vay trên cho H đến hết ngày 19/01/2024 thì dừng không trả được tiền lãi cho H nữa. Tổng số tiền lãi anh D đã trả cho H là 22.500.000đ; trong đó tiền lãi cao nhất được thu theo quy định là 3.750.000đ, tiền thu lời bất chính là 18.750.000đ. Hiện anh D vẫn chưa trả tiền gốc vay cho H.
  • Ngày 22/11/2024, anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1984 ở Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vay H số tiền 5.000.000đ với mức lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày (tương đương 146%/năm). Sau đó H cắt trước tiền lãi 15 ngày là 300.000₫ rồi chuyển số tiền 4.700.000₫ đến tài khoản 19029334848018 tại Ngân hàng T1 của anh V. Ngày 09/12/2024, anh V chuyển khoản trả H 5.000.000đ là tiền đã vay và không phải trả thêm khoản tiền lãi nào khác. Tổng số tiền lãi anh V trả H cho khoản vay này là 300.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất được thu theo quy định là 41.096đ, tiền thu lời bất chính là 258.904₫.
  • Chị Hoàng Thị Ư, sinh năm 1972 ở Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có vay của H nhiều khoản tiền khác nhau trong đó có 03 lần cho vay lãi nặng với tổng số tiền vay là 30.000.000đ, cụ thể:
  • Ngày 17/3/2024, chị Ư vay H số tiền 10.000.000₫ với lãi suất 900.000đ/1 tháng (tương đương 108%/năm), H cắt trước tiền lãi tháng đầu và sử dụng tài khoản chuyển số tiền 9.100.000đ vào tài khoản 42510000811660 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) của chị Ư. Sau khi vay tiền được 01 tháng thì chị Ư đã trực tiếp đến gặp H trả cho H số tiền gốc vay 10.000.000₫ bằng tiền mặt. Đối với khoản vay này chị Ư đã trả cho H 900.000đ tiền lãi, trong đó tiền lãi cao nhất được thu theo quy định là 98.630đ, tiền thu lời bất chính là 801.370đ.
  • Ngày 07/10/2024, chị Ư tiếp tục vay H số tiền 10.000.000đ với lãi suất 900.000đ/1 tháng. Như lần vay trước, H cắt trước tiền lãi tháng đầu rồi chuyển khoản vào tài khoản của chị Ước số tiền 9.100.000đ. Sau khi vay tiền được 01 tháng do không có tiền trả tiền gốc nên chị Ư xin H giảm tiền lãi, H đồng ý giảm lãi từ 900.000đ xuống còn 800.000đ/01 tháng (tương đương 96%/năm) cho chị Ư. Ngày 22/11/2024, chị Ư chuyển khoản 800.000đ tiền lãi tháng vay thứ 2 cho H. Khi hết thời hạn vay tiền thì chị Ư đã trực tiếp gặp H trả số tiền gốc vay là 10.000.000đ. Như vậy, đối với khoản vay này chị Ư đã phải trả tiền lãi cho H với mức với mức lãi nặng trong thời gian 01 tháng là 900.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất được thu theo quy định là 98.630đ, tiền thu lời bất chính là 801.370đ.
  • Ngày 05/12/2024, chị Ư tiếp tục vay H số tiền 10.000.000₫ vẫn với lãi suất 900.000đ/1 tháng. Sau đó H cắt tiền lãi tháng đầu và sử dụng tài khoản chuyển số tiền 9.100.000đ cho chị Ư vay. Ngoài tiền lãi tháng đầu tiên mà H đã cắt trừ thì đến nay chị Ư vẫn chưa trả được tiền lãi của khoản vay này cho H. Như vậy, đối với khoản vay tiền lãi cao nhất H được thu theo quy định là 98.630đ, tiền thu lời bất chính là 801.370đ.

Ngoài 03 lần H cho chị Ư vay tổng số tiền 30.000.000đ với lãi suất 108%/1 năm như nêu trên thì H còn cho chị Ư vay 03 lần tổng số tiền 30.000.000đ với mức lãi suất từ 91.25%/năm đến 96%/năm, cụ thể:

  • Ngày 09/6/2024, chị Ư vay H số tiền 10.000.000đ với lãi suất thoả thuận là 800.000đ/1 tháng (tương đương 96%/năm), H cắt trừ tiền lãi của tháng đầu tiền và chuyển vào tài khoản của chị Ước số tiền 9.200.000đ. Đến khoảng ngày 15/7/2024, chị Ư tiếp tục vay thêm H số tiền 10.000.000đ trong thời gian 15 ngày với mức lãi suất 400.000đ; H đã đưa cho chị Ư đủ số tiền 10.000.000₫ gốc vay, không cắt trừ tiền lãi. Ngày 29/7/2024, chị Ư đến gặp H trả lại 20.000.000₫ tiền gốc đã vay và trả thêm 900.000đ tiền lãi hai khoản vay (gồm 500.000đ tiền lãi tháng vay thứ 2 của khoản vay ngày 09/6/2024, 400.000đ là tiền lãi khoản vay ngày 16/7/2024).
  • Ngày 20/8/2024, chị Ư vay H số tiền 10.00.000đ trong thời hạn 2 tháng với mức lãi suất 800.000đ/1 tháng. Sau đó H cắt trừ tiền lãi tháng đầu và chuyển vào tài khoản của chị Ước số tiền 9.200.000đ. Sau khi vay tiền thì chị Ư đã trả tiền lãi của khoản vay này đến hết ngày 20/10/2024 với tổng số tiền lãi là 1.600.000đ. Đến ngày 20/10/2024 thì chị Ư trả lại khoản tiền đã vay cho H.

Như vậy trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 cho đến khi bị Cơ quan điều tra phát hiện, với số tiền gốc ban đầu là 65.000.000 đồng, Nguyễn Thị Thúy H đã trực tiếp cho 04 người vay, tương ứng với 7 khoản vay số tiền là 120.000.000đ với mức lãi suất từ 120%/năm đến 146%/năm thu được số tiền lãi 46.500.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất theo quy định là 7.586.986đ, tiền thu lời bất chính là 38.913.014₫.

Tại Kết luận giám định số 440/KLGĐ-KTHS ngày 12/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2023 đến ngày 17/12/2024 trên đối với điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Thị Thúy H tìm thấy:

  • 2.710 (hai nghìn bày trăm mười) cuộc gọi. Chi tiết thể hiện trong file Excel tên: “1.Cuoc goi.xlsx" lưu trong đĩa DVD kèm theo.
  • 1.438 (một nghìn bốn trăm ba mươi tám) tin nhắn Native Messages và 418 MB dữ liệu kèm theo. Chi tiết thể hiện trong thư mục tên: “2.Tin nhan Native Messages" lưu trong đĩa DVD kèm theo.
  • 24.889 (hai mươi tư nghìn tám trăm tám mươi chín) tin nhắn Zalo và 570 MB dữ liệu kèm theo. Chi tiết thể hiện trong thư mục tên: “3.Tin nhan Zalo” lưu trong đĩa DVD kèm theo.
  • 63 (sáu mươi ba) tin nhắn Facebook. Chi tiết thể hiện trong file Excel tên: "4. Tin nhan Facebook.xlsx” lưu trong đĩa DVD kèm theo.
  • 365 (ba trăm sáu mươi lăm) tin nhắn Instant Messages (SMS+ iMessage) và 974 MB dữ liệu kèm theo. Chi tiết thể hiện trong thư mục tên: “5.Tin nhan Instant Messages” lưu trong đĩa DVD kèm theo.
  • Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Facebook Messenger, Telegram theo yêu cầu giám định.
  • Không tìm thấy dữ liệu trên thẻ sim gắn trong mẫu cần giám định.

Sau khi nhận Kết luận giám định trên, Cơ quan điều tra đã tiến hành in toàn bộ dữ liệu lưu khôi phục, trích xuất được trên chiếc điện thoại của Nguyễn Thị Thúy H ra giấy A4 để phục vụ quá trình điều tra. Căn cứ nội dung các tin nhắn được trích xuất, phục hồi từ chiếc điện thoại di động của H xác định có 04 đoạn tin nhắn Zalo, Native M1 (tin nhắn trong ứng dụng điện thoại Iphone) giữa H với chị Hoàng Thị Ư, anh Đỗ Trọng T, Đào Tiến D và anh Nguyễn Quang V có nội dung liên quan đến việc thỏa thuận vay tiền, phù hợp với lời khai của H và những người liên quan trong quá trình điều tra vụ án.

Cơ quan điều tra đã sao kê các tài khoản ngân hàng liên quan đến hành vi cho vay lãi của Nguyễn Thị Thúy H gồm: Tài khoản số [...] tại Ngân hàng V1 của Nguyễn Thị Thúy H, tài khoản số 42510000811660 tại Ngân hàng B của Hoàng Thị Ư, tài khoản số 19037215493018 tại Ngân hàng T1 của Đào Tiến D, tài khoản số 19029334848018 tại Ngân hàng T1 của Nguyễn Quang V. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng đã thể hiện việc chuyển khoản tiền để cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và thu tiền lãi của Nguyễn Thị Thúy H, phù hợp với lời khai của H và những người liên quan.

Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKS-P1 ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị Thúy H từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ, bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập từ 05% đến 10%/tháng sung ngân sách Nhà nước.
  • Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024, Nguyễn Thị Thúy H đã trực tiếp cho 04 người vay tiền với mức lãi suất từ 120%/năm đến 146%/năm ( gấp 6 đến 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự). H đã dùng số tiền gốc ban đầu là 65.000.000đ cho 04 người vay tương ứng với 07 khoản vay. Do số tiền trên được quay vòng vốn nhiều lần, khi người vay trước trả số tiền gốc và lãi H lại tiếp tục sử dụng để cho người vay sau vay, do đó tổng số tiền H đã cho 4 người vay tương ứng với 07 khoản vay là: 120.000.000đ, trong đó: Tổng số tiền gốc người vay đã trả: 85.000.000đ; số tiền gốc người vay chưa trả: 35.000.000đ; số tiền lãi đã thu là: 46.500.000đ (số tiền lãi tính theo quy định tại Bộ luật Dân sự là 7.586.986đ; số tiền thu lời bất chính là 38.913.014).

Hành vi của Nguyễn Thị Thúy H thông qua các giao dịch dân sự cho 04 người vay tiền với mức lãi suất vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính 38.913.014₫ đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, phạm vào khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

[3]. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước. Đây còn là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trong đời sống xã hội; tình trạng vay nặng lãi, lãi xuất quá cao dẫn đến vỡ nợ hoặc tình trạng siết nợ diễn ra gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân nói riêng và trật tự, an toàn xã hội nói chung, do vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là phạm pháp nhưng do tham lam tư lợi nên đã phạm tội.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Đây là những căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, công việc tự do thu nhập không ổn định, nuôi hai con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[5]. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn làm rõ ngoài việc cho 04 trường hợp vay lãi nặng trên thì Nguyễn Thị Thúy H còn cho hai trường hợp vay tiền với mức lãi suất chưa gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, cụ thể: Anh Đỗ Trọng T, sinh năm 1987, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vay 02 lần với tổng số tiền 60.000.000đ, mức lãi suất 80%/năm; chị Hoàng Thị Ư vay H 02 lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng, mức lãi suất 96%/năm. Xác định đây là các giao dịch dân sự hợp pháp do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[6]. Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Còn đối với khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Do đó để đảm bảo cho yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với khoản tiền này. Riêng khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm của tất cả những người vay trong vụ án này, quá trình điều tra xác định, các khoản tiền vay này người vay đều sử dụng vào mục đích cá nhân, sinh hoạt cuộc sống nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên cần được trả lại cho người vay tiền. Cụ thể:

  • Đối với số tiền gốc người vay đã trả cho H là 35.000.000 đồng (trong đó anh N trả 30.000.000 đồng; anh V trả 5.000.000 đồng), được xác định là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần truy thu của H để sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với số tiền người vay chưa trả là 35.000.000 đồng, được xác định là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần truy thu của những người vay chưa trả để sung ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Truy thu của anh Đào Tiến D 25.000.000 đồng; của chị Hoàng Thị Ư 10.000.000 đồng.
  • Đối với số tiền lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm là 7.586.986đ được xác định là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần truy thu của H để sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với số tiền thu lời bất chính từ 07 khoản vay là 38.913.014₫ cần buộc H trả lại cho những người vay tiền, cụ thể: Trả cho anh Sái Văn N là 17.500.000đ, anh Đào Tiến D là 18.750.000đ, anh Nguyễn Vinh Q là 258.904₫, chị Hoàng Thị Ư là 2.404.110đ.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 201 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung, cần phạt tiền bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.

[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone16 Promax màu hồng có IMEI số 351613329189893, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim điện thoại số 0968.039.xxx. Căn cứ kết quả điều tra xác định đây là chiếc điện thoại của Nguyễn Thị Thúy H sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi cho vay lãi nặng. Do vậy, cần tịch thu, bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 17/12/2024 đến ngày 19/12/2024), bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh V nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thúy H.

Căn cứ Điều 41, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Truy thu, sung ngân sách Nhà nước của Nguyễn Thị Thúy H số tiền 42.586.986 đồng (trong đó có 35.000.000 đồng là tiền gốc người vay đã trả cho H và 7.586.986 đồng là tiền lãi tương ứng với lãi suất 20%/năm)
  • Truy thu, sung ngân sách Nhà nước của anh Đào Tiến D 25.000.000 đồng; của chị Hoàng Thị Ư 10.000.000 đồng.
  • Buộc Nguyễn Thị Thúy H phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho anh Sái Văn N là 17.500.000 đồng, anh Đào Tiến D là 18.750.000 đồng, anh Nguyễn Vinh Q là 258.904 đồng, chị Hoàng Thị Ư là 2.404.110 đồng.
  • Tịch thu, bán phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone16 Promax màu hồng có IMEI số 351613329189893, trong điện thoại lắp 01 thẻ sim điện thoại số 0968.039.xxx của Nguyễn Thị Thúy H, SN 1991 trú tại: TDP C, P.Đ, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc được niêm phong theo quy định trong 01 phong bì thư. (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • Bị cáo;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • UBND P. Định Trung, TP Vĩnh Yên;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án; HCTP, THS, THAHS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Bùi Thị Đoan Trang

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thúy H phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger