Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Gia Cát;

Ông Đoàn Minh Long;

Bà Ngô Mỵ Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/HSST-QĐ ngày 12/6/2025 đối với bị cáo:

Trần Quang T; Sinh ngày 17 tháng 10 năm 1971; Nơi sinh: Thanh Hóa; Nơi cư trú: 202 phố H, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Vinh K (sinh năm 1943) và bà Phạm Thị N (1948); Có vợ là bà Lê Thị Bích T1 (đã ly hôn) và có 01 con (sinh năm 1993). Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/6/2010 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vụ án đang được phục hồi điều tra. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2024. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn H thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Kim L; Sinh năm 1971; Nơi cư trú: Phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện nay: A X, phố Đ, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Quốc H1; Sinh năm 1966; Nơi cư trú: Xóm B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Trần L1; Sinh năm 1960; Nơi cư trú: T709, TBĐ H V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Ông Vũ Thành P; Sinh năm 2001; Nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Bà Đinh Thị Kim H2; Sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn A, tổ I, xóm B, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Bà Vũ Thị Hồng N1; Sinh năm 1989; Nơi cư trú: 3 khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Đoàn Thị Mộng T2; Sinh năm 1963; Nơi cư trú: 4 H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Bà Bùi Thị Mỹ H3; Sinh năm 1971; Nơi cư trú: A D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Mộng T3; Sinh năm 1975; Nơi cư trú: 686/72/10 C, phường E, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Căn hộ 2.04, chung cư Đ, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  4. Ông Trần Hùng T4; Sinh năm 1976; Nơi cư trú: 33 ngõ A K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Ấp C, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
  5. Bà Trịnh Thị Thu D; Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang T (sử dụng tên giả là Trần Quốc H4) là người không có nghề nghiệp và nơi ở ổn định. T có bạn gái là Vũ Thị Hồng N1 và có quen biết với ông Nguyễn Trần L1. Đầu tháng 3 năm 2023, ông L1 nhờ T bán Farm điện mặt trời của ông ở địa chỉ: thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa với giá 8.000.000.000 đồng. Ông L1 và T thỏa thuận T sẽ đầu tư tu sửa dự án Farm điện để dễ bán hoặc nếu không bán được thì T sẽ vay ngân hàng tiếp tục làm dự án F điện. Đến tháng 7 năm 2023, T quen biết và rủ ông Phạm Quốc H1 cùng góp vốn đầu tư làm dự án Farm điện mặt trời thì ông H1 đồng ý.

Đến đầu tháng 8/2023, ông H1 và bạn là bà Phạm Thị Kim L đến tỉnh Khánh Hòa gặp T và N1 thì được T giới thiệu thửa đất rừng ở xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (do bà Nguyễn Thị Mộng T3 là người quản lý, sử dụng nhờ T môi giới bán giúp) để bà L mua đầu tư. Sau khi xem thửa đất, bà L đồng ý mua và chuyển khoản cho T số tiền 100.000.000 đồng để làm chi phí giao dịch thửa đất.

Đến khoảng giữa tháng 8/2023, bà L và ông H1 tiếp tục đến tỉnh Khánh Hòa gặp T và N1 tại khách sạn S địa chỉ: D T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa để bàn về vấn đề mua bán thửa đất rừng nêu trên nhưng vì bị vướng giấy tờ nên không thực hiện được. Trước đó vào tháng 3 năm 2023, do có mối quan hệ quen biết với bà Đoàn Thị Mộng T2 là giám đốc Công ty B, địa chỉ: đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và biết được bà T2 đang nhận rao bán cho bà Bùi Thị Mỹ H3 khách sạn MELYNA địa chỉ A D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, diện tích: 130,1m² với giá 40 tỷ, đồng thời được bà T2 chuyển thông tin của khách sạn (hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của khách sạn, địa chỉ khách sạn và tên khách sạn). Mặc dù bà H3 và bà T2 không nhờ, ủy quyền cho T về việc bán khách sạn, nhưng T vẫn giới thiệu cho bà L mua khách sạn M và báo giá khách sạn là 15 tỷ đồng (giá thấp hơn rất nhiều so với giá bán mà bà H3 chủ khách sạn đưa ra). T nói với bà L đây là nhà của chị T2 vợ của anh P1 ủy quyền cho T đứng ra bán khách sạn. Ngoài ra T đưa cho bà L xem hình ảnh quyển sổ đỏ của khách sạn, địa chỉ khách sạn và tên khách sạn. Để tạo niềm tin, T gọi điện thoại cho một người phụ nữ tự xưng là “Thu” (không rõ nhân thân, lai lịch), mở loa ngoài để cho ông H1, bà L cùng nghe, nội dung cuộc nói chuyện giữa T và “T2” về việc “T2” giao cho T đứng ra bán khách sạn. Vì tin tưởng nội dung mà T cung cấp là thật nên chị L đồng ý mua khách sạn. T yêu cầu chị L phải đặt cọc cho T số tiền 2.000.000.000 đồng trong vòng 30 ngày và chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản số 17191517 mở tại ngân hàng A của N1. Sau khi ra công chứng sẽ chuyển đủ tiền mua. Tin vào lời nói của T, bà L đã nhiều lần chuyển tiền đặt cọc chuyển nhượng khách sạn MELYNA, cụ thể như sau: Ngày 14/08/2023, bà L chuyển khoản 02 lần: Lần 01 số tiền 450.000.000 đồng, nội dung: PHAM THI KIM LOAN chuyen khoan cho hai coc nha 16 da T6, lần 02 số tiền 400.000.000 đồng, nội dung: pham thi kim loan ck cho hai coc nha 16 da tuong nha trang lan 2. Tổng cộng số tiền 850.000.000 đồng; Ngày 15/08/2023, bà L chuyển số tiền 250.000.000 đồng, nội dung: PHAM THỊ KIM LOAN chuyen khoan hai tien coc mua nha 16 da tuong; Ngày 02/09/2023, bà L chuyển số tiền 30.000.000 đồng, nội dung: PHAM THI KIM LOAN chuyen khoan hai coc nha 16 da tuong (đến ngày 05/09/2023 thì tài khoản ngân hàng của N1 mới báo nhận số tiền này). Tổng cộng số tiền bà L chuyển vào tài khoản số 17191517 mở tại ngân hàng A của N1 là 1.130.000.000 đồng.

Sau khi vừa nhận tiền từ bà L vào các ngày 14 và 15/08/2023, T cùng N1 chuyển tiền cho Công ty TNHH Ô ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai 862.200.000 đồng để mua xe ô tô VF8 có biển số 60K-308.20. Số tiền còn lại cả hai đã tiêu xài cá nhân hết. Khi bà L yêu cầu T viết giấy biên nhận tiền đặt cọc mua bán khách sạn, đồng thời đề nghị gặp trực tiếp chủ để thực hiện việc chuyển nhượng khách sạn trên thì T không thực hiện và cắt đứt liên lạc với bà L. Biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bà L đã tố cáo đến Công an tỉnh K.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSKH-P1 ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 13 đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Về xử lý vật chứng: Xử lý theo quy định pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về mặt thủ tục nhập vụ án theo Quyết định khởi tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã bồi thường thiệt hại cho bị hại giá trị xe ô tô Vinfast là 862.000.000 đồng, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Do nhận thức pháp luật của bị cáo kém và do ham muốn nhất thời về vật chất nên bị cáo mới thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự tuyên bị cáo mức án dưới mức khung hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Bị hại Phạm Thị Kim L trình bày ý kiến trong đơn xin xét xử vắng mặt: Đề nghị bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 118.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt bị cáo quy định pháp luật và không xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác

có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng giữa tháng 8 năm 2023, tại khách sạn S địa chỉ: D T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, Trần Quang T đã cung cấp thông tin gian dối cho bà Phạm Thị Kim L rằng T được chủ khách sạn M (địa chỉ A D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa) ủy quyền bán khách sạn với giá 15.000.000.000 đồng và yêu cầu bà L đặt cọc số tiền 2.000.000.000 đồng. Tin vào lời của T, bà L đã chuyển 1.130.000.000 đồng đặt cọc mua khách sạn cho T. T đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên để tiêu xài vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi gian dối nhằm tạo lòng tin cho người khác rồi chiếm đoạt tài sản của họ là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại. Đối với xe ôtô Vinfast trị giá 862.000.000 đồng được Cơ quan điều tra thu giữ với mục đích khắc phục cho bị hại nên số tiền thực tế bị cáo tự nguyện khắc phục là 150.000.000 đồng nhưng số tiền này không đáng kể so với thiệt hại đã gây ra nên không có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ đã bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà chỉ có thể áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên mức án khởi điểm của khung hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Đối với hành vi đặt mua trên mạng Internet nhiều giấy tờ tùy thân giả (Giấy phép lái xe, Giấy chứng minh nhân dân, Căn cước công dân) của Trần Quang T: T không sử dụng những giấy tờ giả này để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà chỉ sử dụng với mục đích đối phó cơ quan chức năng khi bị kiểm tra hành chính. Ngày 19/3/2025, Phòng C Công an tỉnh K đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T với số tiền là 5.000.000 đồng.

[6] Đối với Vũ Thị Hồng N1 có mặt tại buổi nói chuyện khi T giới thiệu bán khách sạn Melyna cho bà Phạm Thị Kim L. Tuy nhiên N1 không tham gia, không biết việc T cung cấp thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà L. Khi nhận được tiền do bà L chuyển vào tài khoản của mình thì N1 rút, chuyển tiền sử dụng theo yêu cầu của T. N1 không biết tiền này do T phạm tội mà có, vì vậy

không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N1. Đối với hành vi sử dụng Giấy chứng minh nhân dân giả của N1, ngày 19/3/2025 đã bị Phòng C Công an tỉnh K xử phạt hành chính với số tiền là 5.000.000 đồng.

[7] Đối với người phụ nữ tên “Thu” (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đang tiếp tục điều tra làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Đối với việc bà L chuyển số tiền 100.000.000 đồng để làm chi phí mua thửa đất rừng (thửa đất số 12, tờ bản đồ số 76, địa chỉ: Buôn D, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa): thửa đất trên do bà Nguyễn Thị Mộng T3 (là người sống chung như vợ chồng với Trần Quang T) quản lý, sử dụng. T3 có nhờ T tìm người mua lô đất trên, nếu thỏa thuận được giá cả sẽ đồng ý bán. Việc giao dịch không thành công là do vướng mắc về giấy tờ. Đây là giao dịch dân sự nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

[9] Đối với việc ông Phạm Quốc H1 tố cáo Trần Quang T chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng qua việc hợp tác góp vốn đầu tư làm Farm điện mặt trời tại thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa: Quá trình điều tra xác định Farm điện trên là của ông Nguyễn Trần L1. Ông L1 đồng ý cho T đầu tư tu sửa dự án Farm điện để dễ bán hoặc nếu không bán được thì T sẽ vay ngân hàng tiếp tục làm dự án F điện. Quá trình nâng cấp, sửa chữa F điện T có rủ ông H1 hợp tác góp vốn đầu tư với số tiền 300.000.000 đồng vào Farm điện nên đây là tranh chấp dân sự, không có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Phạm Thị Kim L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 118.000.000 đồng. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại cho bà Phạm Thị Kim L là 118.000.000 đồng (Một trăm mười tám triệu đồng).

[11] Về vật chứng vụ án:

- Tạm giữ các vật chứng sau đây để đảm bảo thi hành nghĩa vụ dân sự của bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương; 01 dây đeo cổ chuỗi bằng hạt, 01 nanh động vật, 01 đồng hồ có chữ “CARTIER”, 01 đồng hồ có chữ “HUBLOT”; 05 nhẫn kim loại màu vàng, trắng; 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, trắng có hình phật bằng đá; 01 mặt dây chuyền hình trụ có bọc hai bằng kim loại màu vàng được niêm phong trong một phong bì giấy đã nhập kho vật chứng Công an tỉnh K theo Lệnh nhập kho vật chứng số 145/LNK-CSĐT-HS(Đ3) ngày 14/3/2025.

- Tuyên tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01 giấy phép lái xe hạng A2 mang tên Trần Quốc H4, 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc H4, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T5, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T5, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Vật chứng được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[2] Xử phạt: Bị cáo Trần Quang T 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Kim L số tiền 118.000.000 đồng (Một trăm mười tám triệu đồng).

[4] Về vật chứng vụ án:

* Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ các vật chứng sau đây để đảm bảo cho nghĩa vụ bồi thường và các nghĩa vụ khác được tuyên trong phần quyết định của bản án đối với bị cáo:

  • - 05 nhẫn kim loại màu vàng, trắng; 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, trắng có hình phật bằng đá; 01 mặt dây chuyền hình trụ có bọc hai bằng kim loại màu vàng được niêm phong trong một phong bì giấy đã nhập kho vật chứng Công an tỉnh K theo Lệnh nhập kho vật chứng số 145/LNK-CSĐT-HS(Đ3) ngày 14/3/2025.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương;
  • - 01 dây đeo cổ chuỗi bằng hạt, 01 nanh động vật, 01 đồng hồ có chữ “CARTIER”, 01 đồng hồ có chữ “HUBLOT”;

* Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01 giấy phép lái xe hạng A2 mang tên Trần Quốc H4, 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc H4, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T5, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T5, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Vật chứng được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm nghìn đồng).

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra - Công an tỉnh K. Hòa;
  • - CQ THAHS - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh K.Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ-Công an tỉnh K.Hòa;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh K. Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có QLNVLQ);
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Thành lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger