|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 62/2025/HS-ST
Ngày: 24- 6- 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ- TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Văn Du
- Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm lệ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. ĐOÀN ĐỨC T. Sinh ngày: 28/4/1993, tại TP ..
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Số D đường H, tổ E, phường H, quận C, TP .; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 048093008579; con ông Đoàn T (C) và bà Trần Thị Đ; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt giam ngày 22/11/2024- Có mặt tại phiên tòa.
2. NGUYỄN HỒ Q T4. Sinh ngày: 21/02/1984, tại TP ..Nơi cư trú: K T, phường P, quận H, TP .; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 048184002434; con ông Nguyễn Trọng G (C) và bà Hồ Thị Á; có chồng Nguyễn Văn T1 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
3. TRẦN QUANG V. Sinh ngày: 13/12/1975, tại TP ..
Nơi cư trú: Tổ E, phường K, quận C, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 048075007013; con ông Trần Viết C và bà Phan Thị T2; có vợ Đặng Thị Kim Y và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quang V: Ông Trần Viết C (là cha đẻ). Sinh Năm: 1945. Trú tại: Tổ E, phường K, quận C, TP .- Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang V: Ông Lê Bảo Â- Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư T7- Có mặt.
* Bị hại:
1. Ông Nguyễn Ái . Sinh năm: 1972
Trú tại: Số A C, phường K, quận C, TP .- Có mặt;
2. Bà Bùi Thị Bích T3. Sinh năm: 1982
Trú tại: Căn hộ S, tòa nhà B, Chung cư P, tổ H phường H, quận C, TP .- Vắng mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Kim H. Sinh năm: 1981
Trú tại: Căn hộ S, tòa nhà B, Chung cư P, tổ H phường H, quận C, TP .- Vắng mặt;
2. Ông Nguyễn Q1. Sinh năm: 1977
Trú tại: Số A C, phường K, quận C, TP .- Vắng mặt;
* Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn X. Sinh năm: 1959
Trú tại: Tổ C, phường K, quận C, TP .- Vắng mặt;
2. Ông Nguyễn Phú L. Sinh năm: 1966
Trú tại: Tổ C phường K, quận C, TP .- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2017, trong thời gian làm việc tại Công ty M thuộc khu Công nghiệp H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 có cho 02 người đồng nghiệp mượn tiền, là ông Võ Kim H với số tiền 900.000.000 đồng vào năm 2019 và ông Nguyễn Q1 với số tiền 65.000.000 đồng vào năm 2022. Tuy nhiên, sau đó ông H và ông Q1 chưa trả hết nợ cho Nguyễn Hồ Quỳnh T4 mặc dù T4 đã nhiều lần hối thúc.
Đến cuối năm 2023, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 quen biết với Đoàn Đức T5 và kể lại cho T5 nghe việc H và Q1 nợ tiền mà không trả. T4 nhờ T5 thu hồi nợ từ những người này bằng cách trái pháp luật, thông qua việc xịt sơn và ném đá, chất bẩn vào nhà những người này để uy hiếp tinh thần, khiến gia đình những người này lo sợ, bị áp lực mà phải trả tiền cho T4 thì T5 đồng ý.
Từ tháng 01/2024 đến tháng 7/2024, được sự hỗ trợ của Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V, Đoàn Đức T5 đã nhiều lần nhắn tin đe doạ, xịt sơn, đập phá tài sản, ném chất bẩn vào nhà số A Cách mạng tháng tám, phường K, quận C của ông Nguyễn Á1 (là cha của Q1) và căn hộ số 310, tòa nhà B, chung cư P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng của chị Bùi Thị Bích T3 (là vợ của H) để buộc những người này phải trả nợ thay cho H và Q1. Cụ thể:
Lần 1: Vào tối ngày 19/01/2024, T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila màu vàng biển số 92E1-099.03 đến phòng chung cư của bà Bùi Thị Bích T3, dùng đá đập bể cửa kính và xịt sơn hai bên tường phía ngoài chữ “NỢ ĐỜI”.
Lần 2: Vào tối ngày 03/02/2024, T5 tiếp tục đến nhà bàThảo xịt sơn đen hai bên tường phía ngoài chữ “KHỐN NẠN”.
Lần 3: Vào tối ngày 10/02/2024 (trước giao thừa Tết Nguyên đán), T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila biển số 92E1-099.03 đến nhà ông Nguyễn Á1, dùng cây cắm cờ trước nhà đập bể 02 tấm kính cửa bên cạnh đường luồng, gây thiệt hại về tài sản trị giá 1.167.000 đồng.
Lần 4: Vào tối ngày 16/02/2024 (mồng 7 Tết Nguyên đán), T5 điều khiển xe mô tô Attila biển số 92E1-099.03 đến nhà ông Á1 xịt sơn vào khung cửa chính và xịt sơn lên ghế xích đu chữ “CHẾT SỚM”.
Lần 5: Vào tối ngày 08/3/2024, T5 tiếp tục đến nhà ông Á1, ném đá bể kính cửa chính tầng 2 gây thiệt hại về tài sản trị giá 1.067.000đồng.
Lần 6: Vào sáng ngày 04/5/2024, sau khi Nguyễn Hồ Quỳnh T4 đến gặp ông Á1 đòi nợ nhưng không được và bị ông Á1 đuổi về. Lúc này, T4 báo cho Đoàn Đức T5 biết nhà ông Á1 đang tổ chức đám giỗ. Đến trưa cùng ngày, T5 nhờ Trần Quang V điều khiển xe mô tô hiệu Attila nêu trên đi ngang nhà ông Á1 để T5 ngồi sau ném gói nylon chứa dầu nhớt vào các bàn tiệc, làm khách đến dự dính bẩn quần áo gây náo loạn.
Lần 7: Vào tối ngày 04/6/2024, T5 đến nhà bà T3, mở cửa ném bịch nhớt màu đen vào căn hộ làm dơ bẩn một số đồ đạc trong nhà rồi bỏ chạy.
Lần 8: Vào tối ngày 06/6/2024, T5 tiếp tục ném dầu nhớt vào sân nhà ông Nguyễn Á1 gây dơ bẩn các đồ vật trong nhà.
Lần 9: Vào tối ngày 17/6/2024, T5 đến nhà bà T3 dùng đá đập bể cửa kính (cửa này trước đó đã bị đập vỡ một phần vào ngày 19/01/2024) và xịt sơn chữ “CHẾT SỚM” vào hai bên tường phía ngoài, gây thiệt hại về tài sản trị giá 867.000đồng.
Lần 10: Vào tối ngày 18/6/2024, T5 ném gói nylon chứa dầu nhớt vào nhà bà T3 rồi tẩu thoát.
Lần 11: Khoảng 21 giờ ngày 06/7/2024, T5 nhờ V điều khiển xe mô tô A chở T5 đến nhà ông Á1 ném dầu nhớt vào trong sân nhà rồi cả hai cùng nhau đi uống bia. Đến khuya cùng ngày, T5 nhờ V chở quay lại nhà ông Á1 ném đá, chất bẩn thêm một lần nữa thì bị ông Á1 và anh Q1 phát hiện nhưng cả hai đã bỏ chạy.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 129 ngày 21/01/2025 của Trung tâm P kết luận: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cho đến nay, Trần Quang V bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Đối với các thiệt hại tài sản gồm tường, nền, trần nhà, ghế sopha bị xịt sơn, tạt chất bẩn, 04 mâm tiệc..., Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá để xác định thiệt hại, tuy nhiên Hội đồng định giá tài sản không đủ cơ sở dữ liệu để định giá.
Ngoài ra, bà Bùi Thị Bích T3 có trình báo về việc bị hư hỏng 02 camera trị giá 333.000 đồng vào ngày 09/02/2024; ông Nguyễn Á1 trình báo hư hỏng 02 camera trị giá 1.134.000 đồng vào ngày 12/02/2024 và bị rách 02 yên xe mô tô vào tối ngày 08/02/2024 với thiệt hại 580.000 đồng. Tuy nhiên, qua điều tra không có căn cứ chứng minh Đoàn Đức T5 gây ra các hư hỏng tài sản này.
Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSCL ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . đã truy tố các bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm lệ, TP . thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Đức T5 mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Quỳnh T4 mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang V mức án từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hồ Quỳnh T4, Đoàn Đức T5 và Trần Quang V đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Á1 số tiền 4.000.000 đồng và bà Bùi Thị Bích T3 số tiền 1.200.000 đồng. Ông Á1 và bà T3 không có yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng:
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Attila màu vàng, mang biển số 92E1-099.03, qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị Thu T6 đứng tên chủ sở hữu rồi bán lại cho người khác. Đến năm 2022, T5 mua lại xe từ người không rõ lai lịch để sử dụng. Xét thấy, đây là phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu S 8, màu đen của Nguyễn Hồ Quỳnh T4 dùng để trao đổi liên lạc với T5 trong quá trình phạm tội cũng như để nhắn tin đe doạ với các bị hại. Đề nghị tịch thu sung công quỹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2024 đến ngày 06/7/2024, để giúp cho Nguyễn Hồ Quỳnh T4 thu hồi nợ trái pháp luật từ Nguyễn Q1 và Võ Kim H, Đoàn Đức T5 được sự giúp sức của Trần Quang V đã 11 lần (trong đó V tham gia 02 lần) ném đá, đập phá tài sản, xịt sơn lên tường và các vật dụng, ném chất bẩn vào nhà của bà Bùi Thị Bích T3 và ông Nguyễn Á1, nhằm uy hiếp những người này để những người này phải lo sợ mà trả nợ thay cho Q1 và H.
[3] Hành vi trên của các bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản và xâm hại an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, phạm vào Điều 170 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 61/CT-VKSCL ngày 06/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V thì thấy: Các bị cáo tham gia có tính chất đồng phạm nhưng không có sự tổ chức, cấu kết, không có sự bàn bạc cụ thể mà chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, lẽ ra các bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[4] Xét hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân của từng bị cáo thì thấy:
Đối với Đoàn Đức T5 là người đã tham gia thực hiện 11 lần ném đá, đập phá tài sản, xịt sơn lên tường và các vật dụng, ném chất bẩn vào nhà của bà Bùi Thị Bích T3 và ông Nguyễn Á1, kèm theo đó nhiều lần nhắn tin đe dọa các bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét cân xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe các đối tượng khác có hành vi tương tự.
Tuy nhiên, trong qua trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo T5 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với nước, có người thân Nguyễn Thị Đ1 là Mẹ Việt Nam Anh hùng và Đoàn Đức L1, Đoàn Đức K là Liệt sĩ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một mức án dưới khung hình phạt cũng thỏa đáng.
Đối với Nguyễn Hồ Quỳnh T4 nhiều lần nhờ bị cáo T5 thu hồi nợ từ ông H và ông Q1 bằng cách trái pháp luật, lẽ ra bị cáo phải ý thức được hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo lại phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo T4 một hình phạt đúng với tính chất và hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo T4 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cân áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một mức án dưới khung hình phạt cũng phù hợp.
Đối với Trần Quang V thực hiện 02 lần chở bị cáo T5 đi ném đá, đập phá tài sản, xịt sơn lên tường và các vật dụng, ném chất bẩn vào nhà ông Nguyễn Á1, bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, trong qua trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã được bị cáo T5, T4 bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng bị cáo tham gia với vai trò không đáng kể, bản thân bị cáo bị bệnh phải điều trị thời gian dài tại bệnh viện T8 và tại Trung tâm P, hiện tại bị cáo vẫn đang uống thuốc chữa bệnh hàng ngày; hơn nữa khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo V là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quận sự và hiện đang nhận trợ cấp xã hội.
Tại phiên tòa vị Luật sư bào chữa cho bị cáo V thống nhất về tội danh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo V tù treo theo khởi điểm của Viện kiểm sát đề nghị. Xét luận cứ của vị Luật sư về phần nhân thân của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao. Vì vậy, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xét chưa cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với hành vi đập phá tài sản, ném chất bẩn gây thiệt hại về tài sản cho các bị hại, do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra không đề cập, xử lý là có căn cứ.
[4] Xét về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra bị cáo Nguyễn Hồ Quỳnh T4, Đoàn Đức T5 và Trần Quang V đã bồi thường cho ông Nguyễn Á1 số tiền 4.000.000 đồng và bà Bùi Thị Bích T3 số tiền 1.200.000 đồng. Ông Á1 và bà T3 không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
[5] Xét về vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Attila màu vàng, mang biển số 92E1-099.03, qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị Thu T6 đứng tên chủ sở hữu rồi bán lại cho người khác. Đến năm 2022, bị cáo T5 mua lại xe từ người không rõ lai lịch để sử dụng. Xét thấy cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu S 8, màu đen của Nguyễn Hồ Quỳnh T4 dùng để trao đổi liên lạc với bị cáo T5 trong quá trình phạm tội cũng như để nhắn tin đe doạ với các bị hại. Xét thấy cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6]Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm lệ tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối bị cáo với Đoàn Đức T5.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồ Quỳnh T4.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang V.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Đức T5, Nguyễn Hồ Quỳnh T4 và Trần Quang V phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Đức T5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 22/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồ Quỳnh T4 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang V 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/6/2025.
Giao Trần Quang V về Ủy ban nhân dân phường K, quận C, TP . sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe môtô biển kiểm soát 92E1-099.03, loại xe: hai bánh; số loại: Attila; dung tích: 111; số máy: MVUADD001064; nhãn hiệu: Sym; màu sơn: đỏ; số khung: 11DDCD001064 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen.
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự Cẩm Lệ, TP . đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/6/2025.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/6/2025.
Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Lâm |
Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 62/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Đức Thành và đồng bọn
