Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày 20-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Phương Dung;

Ông Phạm Xuân Hào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10, 16, 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H (đã chết) và bà Khúc Thị C; bị cáo có vợ tên Phạm Thị T, sinh năm 1989 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo Nguyễn Ngọc B bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc B: Ông Đinh Công T1, sinh năm 1981; Là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Trần Minh T2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Đức D1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Lý Thị H1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  3. Ông Phạm Quang T3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  5. Bà Võ Thị K, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/8/2023, anh Nguyễn Văn D và anh Trần Minh T2 đến quán ăn “K" thuộc ấp T, xã P, P, Bình Dương của chị Võ Thị K làm chủ để uống rượu. Trong lúc anh D và anh T2 uống rượu thì có Lý Thị Huỳnh phụ bán ở quán đến uống rượu chung. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, anh D và anh T2 trả tiền đi về, khi đi ngang qua bàn của anh Phạm Quang T3, do anh D có quen biết với anh T3 nên anh T3 mời anh D và anh T2 vào uống rượu chung. Lúc này anh T3 đang cùng với Nguyễn Ngọc B, anh Bùi Đức D1, chị Trần Thị H2 và chị Lý Thị Huỳnh . Uống rượu được khoảng 10 phút, giữa anh D1 và anh D xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau về việc mời rượu, sau đó anh T2 và anh D đi ra chỗ xe mô tô để về. Khi ra xe anh D và anh D1 tiếp tục cự cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, anh T2 chạy lại ôm cổ anh D1 vật ngã xuống đất rồi đè lên không cho anh D1 đứng dậy. Bông sợ D vào đánh anh D1 nên B cầm một miếng gạch bể (loại gạch tàu màu đỏ dùng để lót nền) chạy lại đánh nhiều cái vào mặt của anh D. D bị đánh chảy máu nên bỏ chạy ra lấy xe mô tô đi ra trạm y tế xã T. Thấy anh T2 đang đè anh D1, B tiếp tục cầm gạch chạy lại đánh anh T2 nhiều cái vào mặt và đầu của anh T2. Bị đánh nên anh T2 buông anh D1 ra và nằm bất tỉnh. Lúc này, chị K và chị H1 chạy lại can ngăn ra đồng thời đưa anh T2 đi Bệnh viện cấp cứu.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 660/2023/KLGĐ-TTPY ngày 24/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Minh T2 là 58%.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 599/2023/KLGĐ-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D là 09%.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P tạm giữ vật chứng gồm: 01 (một) miếng gạch màu đỏ bị vỡ kích thước 13x6x15x7x12cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 16x5x8x14x7cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 18x14x17x4cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x30cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 7x9x8x11cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x26cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x7x12x10cm dày 1,5cm. Bị cáo Nguyễn Ngọc B đã cầm 01 trong số các miếng gạch này để gây thương tích cho bị hại.

Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSPG, ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và áp dụng theo điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B mức hình phạt tù từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Minh T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc B bồi thường số tiền: 292.970.000 đồng, cụ thể chi phí điều trị tại các bệnh viện, phòng khám là 88.870.000 đồng, chi phí tiền ăn những ngày nhập viện điều trị là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), chi phí thuê xe chở đi nhập viện, chuyển viện là 14.100.000 đồng (mười bốn triệu một trăm ngàn đồng), chi phí tiền ăn của vợ bị hại là bà Nguyễn Thị T4 là 20 ngày nhập viện, mỗi ngày 100.000 đồng là 2.000.000 đồng, thu nhập của bà T4 bị mất do phải nghỉ hoàn toàn 01 tháng để chăm sóc bị hại ở nhà cũng như khi đi bệnh viện là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), thu nhập của bị hại bị mất khi điều trị, phục hồi chức năng liên tục trong 05 tháng là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng), tổn thất về tinh thần là 100.000.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc B bồi thường số tiền 97.719.896 đồng (chín mươi bảy triệu bảy trăm mười chín ngàn tám trăm chín mươi sáu đồng), cụ thể: Chi phí điều trị tại các bệnh viện, phòng khám gồm chi phí tại Trung tâm y tế huyện P: 229.896 đồng, có đính kèm biên lai, chi phí mua thuốc tại quầy thuốc Nhật Quang: 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), có đính kèm biên lai, chi phí khám và mua thuốc tại phòng khám N-N tại xã T, huyện P: 3.082.000 đồng (ba triệu không trăm tám mươi hai ngàn đồng), có đính kèm biên lai, chi phí điều trị thẩm mỹ vị trí mặt bị đánh: 47.908.000 đồng (bốn mươi bảy triệu chín trăm lẻ tám ngàn đồng), có đính kèm biên lai. Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại trong suốt thời gian điều trị: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Chi phí thuê xe tái khám hàng tháng: 3.000.000 đồng, có biên nhận. Đã đi 05 lần nhưng chỉ có 03 lần có biên nhận: 03 lần x 1.000.000 đồng = 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thu nhập thực tế bị mất: 02 tháng. Mỗi tháng 12.000.000 đồng là 24.000.000 đồng. Tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng.

Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên ghi nhận sự thỏa thuận của các bị hại và bị cáo, được khấu trừ số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường 100.000.000 đồng cho bị hại Trần Minh T2. Bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường với số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Văn D; ngoài ra, bà Phạm Thị T là vợ của bị cáo B đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng nhằm khắc phục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại T2 theo Biên lai thu tiền số 0002394 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo yêu cầu của bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng gồm 01 (một) miếng gạch màu đỏ bị vỡ kích thước 13x6x15x7x12cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 16x5x8x14x7cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 18x14x17x4cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x30cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 7x9x8x11cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x26cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x7x12x10cm dày 1,5cm.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc B thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với bị hại ông Trần Minh T2, ông Nguyễn Văn D. Bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường với số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại Trần Minh T2. Bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường với số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Văn D. Bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát truy tố khi luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn; ngoài ra, không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Minh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất của bị hại và người chăm sóc, tổn thất tinh thần với số tiền 292.970.000 đồng, đã nhận bồi thường của bị cáo số tiền 100.000.000 đồng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn D vắng mặt, tuy nhiên tại đơn bồi thường thể hiện yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất của bị hại và tổn thất tinh thần với số tiền 97.719.896 đồng, đã nhận bồi thường của bị cáo số tiền 30.000.000 đồng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, không có ý kiến khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T trình bày: Bà có nộp số tiền 10.000.000 đồng nhằm khắc phục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại T2 theo Biên lai thu tiền số 0002394 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo yêu cầu của bị cáo, bà T không yêu cầu bị cáo bồi thường lại do bà tự nguyện; ngoài ra, bà không có yêu cầu nào khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hình vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng và chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 14/8/2023, tại quán ăn “K" thuộc ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Ngọc B thấy bạn là ông Bùi Đức D1 có mâu thuẫn với ông Nguyễn Văn D và ông Trần Minh T2 nên bị cáo B cầm 01 miếng gạch bể (loại gạch tàu dùng để lót nền) đánh vào vùng mặt của ông D và đánh vào đầu, vào mặt của ông T2 gây thương tích.

[3] Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 660/2023/KLGĐ-TTPY ngày 24/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Minh T2 là 58%.

[4] Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 599/2023/KLGĐ-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D là 09%.

[5] Do mâu thuẫn trong lúc uống rượu, bị cáo đã dùng miếng gạch đánh gây thương tích cho các bị hại, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[5] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Xét hành vi của bị cáo dùng miếng gạch đánh làm cho bị hại Trần Minh T2 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tạm thời là 58%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn D là 09% là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng gạch đánh vào vùng mặt sẽ gây thương tích cho các bị hại là nguy hiểm sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả gây ra cho các bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại mà còn làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[8] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[9] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có con còn nhỏ; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[10] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[11] Xét lời khai của bị cáo về tình tiết của vụ án, nhân thân, bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của bị hại là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[12] Xét ý kiến của các bị hại về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự là phù hợp có căn cứ chấp nhận.

[13] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trần Minh T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc B bồi thường số tiền: 292.970.000 đồng, cụ thể:

1/ Chi phí điều trị tại các bệnh viện, phòng khám là 88.870.000 đồng, cụ thể:

  • Chi phí điều trị và chi phí xe chuyển viện tại Trung tâm y tế huyện P: 1.500.000 đồng.
  • Viện phí và chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B: 4.900.000 đồng.
  • Chi phí điều trị chấn thương sọ não tại Bệnh viện C2: 35.950.000 đồng.
  • Tiền mổ nối xương gò má ở Bệnh viện Răng hàm mặt là 28.520.000 đồng.
  • Tiền khám, mổ mắt tại Bệnh viện M, thành phố Hồ Chí Minh: 12.000.000 đồng.
  • Tiền mổ mắt lần hai tại Bệnh viện Mắt Thành phố M: 6.000.000 đồng.

2/ Chi phí tiền ăn những ngày nhập viện điều trị là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), cụ thể:

Do bị hại không ăn được thức ăn thông thường mà chỉ uống được sữa, nước yến và cháo loãng nên chi phí ăn là 200.000 đồng/01 ngày, nhập viện để điều trị 06 lần như sau:

  • Lần 1: Tại Bệnh viện tỉnh B: 01 ngày;
  • Lần 2: Tại Bệnh viện C2: 03 ngày;
  • Lần 3: Tại Bệnh viện C3: 05 ngày;
  • Lần 4: Tại Bệnh viện M: 01 ngày;
  • Lần 5: Tại Bệnh viện R: 09 ngày;
  • Lần 6: Tại Bệnh viện M: 01 ngày.

Tổng cộng 20 ngày là 20 ngày x 200.000 đồng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

3/ Tiền thuê xe chở đi nhập viện, chuyển viện.

  • Tiền thuê taxi chuyển viện từ Bệnh viện C2 ngày 15/8/2023: 800.000 đồng.
  • Tiền thuê taxi chở từ Bệnh C sang Bệnh viện C4 hình ngày 17/8/2023: 500.000 đồng.
  • Tiền thuê Taxi từ Bệnh viện R đến Bệnh viện C2 khám ngày 29/8/2023: 02 lần (lần đi và lần về). mỗi lần 500.000 đồng.
  • Tiền thuê xe ông Hoàng Văn C1 từ Bệnh viện R về nhà ngày 29/8/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 từ Nhà đến Bệnh viện M để phẫu thuật ngày 20/9/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê taxi từ Bệnh viện Mắt sang Bệnh Viện chấn thương chỉnh hình tái khám ngày 21/9/2023: 02 lần đi và về, mỗi lần 300.000 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 từ Bệnh viện Mắt trở về nhà ngày 21/9/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 từ nhà đến Bệnh viện C3 để tái khám ngày 28/9/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 để đi tái khám từ nhà đến Bệnh viện Răng hàm mặt ngày 29/10/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 để đi tái khám từ nhà đến Bệnh viện Răng hàm mặt tinh ngày 11/9/2023: 1.600.00 đồng.
  • Tiền thuê xe ông C1 từ nhà lên Bệnh viện Mắt ngày 20/12/2023 để mổ mắt: 1.600.00 đồng.

Tổng cộng là 14.100.000 đồng (mười bốn triệu một trăm ngàn đồng).

4/ Chi phí tiền ăn của vợ bị hại là bà Nguyễn Thị T4, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Tổng cộng là 20 ngày nhập viện, mỗi ngày 100.000 đồng là 2.000.000 đồng.

5/ Tiền thu nhập của bà T4 bị mất do phải nghỉ hoàn toàn 01 tháng để chăm sóc bị hại ở nhà cũng như khi đi bệnh viện: Thu nhập của bà T4 trong 01 tháng là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).

6/ Tiền thu nhập của bị hại bị mất khi điều trị, phục hồi chức năng liên tục trong 05 tháng. Thu nhập mỗi tháng 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).

7/ Tổn thất về tinh thần là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Bị hại Nguyễn Văn D yêu cầu bị can Nguyễn Ngọc B bồi thường số tiền 97.719.896 đồng (chín mươi bảy triệu bảy trăm mười chín ngàn tám trăm chín mươi sáu đồng), cụ thể:

1/ Chi phí điều trị tại các bệnh viện, phòng khám:

  • Chi phí tại Trung tâm y tế huyện P: 229.896 đồng, có đính kèm biên lai.
  • Chi phí mua thuốc tại quầy thuốc Nhật Quang: 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), có đính kèm biên lai.
  • Chi phí khám và mua thuốc tại phòng khám N-N tại xã T, huyện P: 3.082.000 đồng (ba triệu không trăm tám mươi hai ngàn đồng), có đính kèm biên lai.
  • Chi phí điều trị thẩm mỹ vị trí mặt bị đánh: 47.908.000 đồng (bốn mươi bảy triệu chín trăm lẻ tám ngàn đồng), có đính kèm biên lai.

2/ Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại trong suốt thời gian điều trị: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

3/ Chi phí thuê xe tái khám hàng tháng: 3.000.000 đồng, có biên nhận. Đã đi 05 lần nhưng chỉ có 03 lần có biên nhận: 03 lần x 1.000.000 đồng = 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

4/ Thu nhập thực tế bị mất: 02 tháng. Mỗi tháng 12.000.000 đồng là 24.000.000 đồng.

5/ Tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên ghi nhận sự thỏa thuận của các bị hại và bị cáo, được khấu trừ số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường 100.000.000 đồng cho bị hại Trần Minh T2; bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường với số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Văn D; ngoài ra, bà Phạm Thị T là vợ của bị cáo B đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng nhằm khắc phục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại T2 theo Biên lai thu tiền số 0002394 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo yêu cầu của bị cáo; ngoài ra, các bên không yêu cầu bị cáo bồi thường các chi phí khác nên ghi nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 47; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/12/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc B phải bồi thường cho bị hại Trần Minh T2 số tiền: 292.970.000 đồng, được khấu trừ số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường 100.000.000 đồng cho bị hại Trần Minh T2 và số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002394 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo nên bị cáo Nguyễn Ngọc B phải tiếp tục bồi thường số tiền 182.970.000 đồng cho bị hại Trần Minh T2. Bị hại Trần Minh T2 được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo để được nhận số tiền 10.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc B phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn D số tiền 97.719.896 đồng, được khấu trừ số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc B đã bồi thường 30.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Văn D nên bị cáo Nguyễn Ngọc B phải tiếp tục bồi thường số tiền 67.719.896 đồng cho bị hại Nguyễn Văn D.

Tiếp tục quản thủ số tiền 10.000.000 đồng do bà Phạm Thị T đã tự nguyện nộp nhằm khắc phục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại T2 theo Biên lai thu tiền số 0002394 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo để đảm bảo thi hành án.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng gồm 01 (một) miếng gạch màu đỏ bị vỡ kích thước 13x6x8x15x7x12cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 16x5x8x14x7cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 18x14x17x4cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x30cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 7x9x8x11cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x19x26cm dày 1,5cm; 01 (một) miếng gạch màu đỏ kích thước 23x7x12x10cm dày 1,5cm.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2024.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Ngọc B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét hoàn cảnh khó khăn của bị cáo nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự đối với bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;01
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;01
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;01
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương;01
  • - VKSND H. Phú Giáo:01
  • - CQCSĐT Công an BD;01
  • - Đội CSTHAHS và HTTP:01
  • - UBND xã An Thái, H. Phú Giáo
  • T. Bình Dương (thay thông báo);01
  • - Chi cục THADS H. Phú Giáo;01
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;08
  • - Lưu: HS, VP.02

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc B cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger