|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST Ngày 28-11-2025 V/v: Xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên toà:
Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Quách Thị Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 201/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lưu Văn T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Vân A, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số nhà E, ngõ B, phố H, phường T, tỉnh Hưng Yên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Đức V, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số nhà A, phố T, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên.
(Anh T, chị Vân A và anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/10/2025, bản tự khai, các đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lưu Văn T trình bày:
Anh T được biết chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/9/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên). Trong quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm nên anh V và chị Vân A ly thân từ lâu, đã làm thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên giải quyết cho ly hôn tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025.
Trong thời gian, anh V và chị Vân A ly thân, anh có phát sinh quan hệ sinh lý với chị Vân A, tuy nhiên lúc chị Vân A có thai và sinh con chị Vân A đã mang con đi nơi khác sinh sống, không thông báo cho ai được biết nên anh T không biết được việc đó. Chị Vân A cũng không khai báo với Tòa án nên tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn chỉ xác định chị Vân A và anh V có một con chung là cháu Phan Ngọc Gia H, sinh ngày 07/02/2016 nên sự việc này không được ghi nhận trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.
Đến ngày 18/01/2025 chị Vân A có sinh bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y nhưng không phải là con chung của chị Vân A và anh Phan Đức V. Anh V không hề biết sự tồn tại của cháu M, chị Vân A đã lấy họ mẹ để điền vào Giấy chứng sinh cho cháu M. Anh đề nghị Tòa án trưng cầu giám định AND giữa anh, cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh) và chị Nguyễn Vân A và đề nghị Tòa án xác định anh Lưu Văn T là cha đẻ của bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y.
Tại bản tự khai đề ngày 29/10/2025, các đơn trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Vân A trình bày:
Hiện nay, Tòa án đang giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc xác định cha cho con giữa chị và anh Lưu Văn T. Chị và anh Phan Đức V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/9/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên). Trong quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm nên anh chị đã làm thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên giải quyết cho ly hôn tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025.
Trong thời gian ly thân với anh Phan Đức V, chị có phát sinh quan hệ sinh lý với anh Lưu Văn T và có thai, tuy nhiên khi sinh con chị đã mang con đi nơi khác sinh sống, không thông báo cho ai được biết, cũng không khai báo với Tòa án nên tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn chỉ xác định chị Vân A và anh V có một con chung là cháu Phan Ngọc Gia H nên sự việc này không được ghi nhận trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên. Đến ngày 18/01/2025 chị có sinh bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y nhưng không phải là con chung của chị và anh Phan Đức V do thời gian đó anh chị sống ly thân với nhau, anh V không hề biết sự tồn tại của cháu M, chị Vân A phải lấy họ mẹ để điền vào Giấy chứng sinh cho cháu M. Chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị giám định AND để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai đề ngày 29/10/2025, các đơn trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Đức V trình bày:
Anh và chị Nguyễn Vân A tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 06/9/2017 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình cũ (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên). Trong quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm nên anh chị đã làm thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên giải quyết cho ly hôn tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025. Trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị Vân A cũng như theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn nêu trên thì anh chị chỉ có một con chung là cháu Phan Ngọc Gia H, sinh ngày 07/02/2016, hiện nay con chung đang ở với anh V. Ngoài ra anh chị không còn con chung trong thời kỳ hôn nhân nào khác.
Khi Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án thì anh mới biết rằng trong thời kỳ hôn nhân với anh, chị Vân A đã hạ sinh một bé trai tên là Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh). Do anh và chị Vân A cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống và ly thân trong thời gian dài nên anh không biết chị Vân A mang thai và sinh con. Nay anh V có quan điểm như sau, anh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên trưng cầu giám định để có kết quả chính xác nhất làm căn cứ xác định cháu Nguyễn Nhật M là con ai. Nếu là con của anh thì anh sẽ chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật, còn không phải là con của anh V thì đề nghị tòa án giải quyết, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp anh V.
Bản kết luận giám định AND số 2510/DNA.63 ngày 30/10/2025 của Công ty cổ phần C kết luận: Anh Lưu Văn T có quan hệ huyết thống cha con với cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh) và chị Nguyễn Vân A có quan hệ huyết thống mẹ con với cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh). Quá trình chuẩn bị xét xử cho đến khi mở phiên tòa, các đương sự không có ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên, không đề nghị giám định lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 88, 89, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Lưu Văn T là cha đẻ của con do chị Nguyễn Vân A sinh ra là bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y. Anh Lưu Văn T được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng về giám định AND.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn chị Nguyễn Vân A đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại phường T, tỉnh Hưng Yên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi, thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Lưu Văn T, chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các bên đương sự.
[3] Về yêu cầu xác định cha cho con của anh Lưu Văn T: Anh Lưu Văn T yêu cầu Tòa án xác định anh Lưu Văn T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội, có số căn cước công dân là [...] là cha đẻ của con do chị Nguyễn Vân A sinh ra là Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y, bị đơn chị Nguyễn Vân A chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Đức V không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên) và có một con chung trong thời kỳ hôn nhân là cháu Phan Ngọc Gia H, sinh ngày 07/02/2016. Ngày 22/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên giải quyết cho chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025. Ngày 18/01/2025 chị Vân A sinh được một con là bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y. Như vậy, cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình. Mặc dù cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) được coi là con do chị Vân A sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với anh V tuy nhiên cả chị Vân A và anh V đều xác định cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) do chị Vân A sinh ra ngày 18/01/2025 là con đẻ của anh Lưu Văn T. Sau khi Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên ra quyết định trưng cầu giám định, tại bản kết luận giám định AND số 2510/DNA.63 ngày 30/10/2025 của Công ty cổ phần C kết luận: Anh Lưu Văn T có quan hệ huyết thống cha con với cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh) và chị Nguyễn Vân A có quan hệ huyết thống mẹ con với cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh). Như vậy lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, yêu cầu của anh Lưu Văn T về việc xác định anh Lưu Văn T là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật M (tên giả định để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, quyển số 300000, mã GCS: 01863.GCS.01904.25 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P, Sở Y là có cơ sở nên cần chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Anh Lưu Văn T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định và không yêu cầu chị Vân A, anh V phải chịu chi phí giám định. Xét đề nghị của anh Lưu Văn T là tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Anh Lưu Văn T thuộc trường hợp được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và có đơn xin miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 88, 89, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 01/7/2025; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lưu Văn T: Xác định anh Lưu Văn T, sinh ngày 11/02/1996; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội; có số căn cước công dân là [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/5/2023 là cha đẻ của con do chị Nguyễn Vân A sinh ra là bé trai Nguyễn Nhật M (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 18/01/2025 theo giấy chứng sinh số 359502, mã GCS 01863.GCS.01904.25, quyển số 300000 ngày 18/01/2025 của Bệnh viện P – Sở Y.
- Về chi phí tố tụng: Anh Lưu Văn T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định, nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng của anh T đã thực hiện xong.
- Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho anh Lưu Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự anh Lưu Văn T, chị Nguyễn Vân A và anh Phan Đức V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về xác định cha cho con
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xác định cha cho con T - A
