Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thúy Kiên
  2. Bà Thái Ánh Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 145/2025/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh Năm 1992.
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).

  3. Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1994.
  4. Địa chỉ: khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn L1 sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71, ngày 16/8/2022. Thời gian đầu sống chung vợ chồng hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L1 thường bài bạc, gây nợ nần. Bà nhiều lần khuyên can và trả nợ cho ông L1 nhưng ông L1 vẫn không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà không thể tiếp tục cuộc sống chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L1.

Về con chung: có một con chung tên Trần Nguyễn Văn L2 (nam), sinh ngày 07/9/2012. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Kim T quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do cuộc sống vợ chồng nhiều mâu thuẫn chủ yếu là tình cảm không hợp, bất đồng quan điểm sống nên từ tháng 11/2024 cả hai đã ly thân. Từ đó đến nay cả hai đều không quan tâm, không liên lạc với nhau, cũng như không hàn gắn tình cảm. Với yêu cầu ly hôn của bà T ông không đồng ý ly hôn nhưng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Về con chung: có 01 con chung như bà T trình bày. Khi ly hôn ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung nợ chung: ông thống nhất là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên ông có ý kiến xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa: nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn có nhiều mẫu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, đời sống vợ chồng không phù hợp. Vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau, không còn liên lạc. Do đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng thực sự đã trầm trọng, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn với ông L1.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Nguyễn Văn L2 (nam), sinh ngày 07/9/2012, nguyên đơn có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Thấy rằng đây là nguyện vọng của cháu L2, đồng thời bị đơn cũng thống nhất. Do đó giao cháu L2 cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, bị đơn không phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, các bên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Trần Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn và bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn và bị đơn xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống đã kéo dài từ năm 2015 đến nay không thể hàn gắn. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2024 không còn quan tâm đến nhau, không còn liên lạc và bà T cũng không còn tình cảm với ông L. Cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà T yêu cầu được ly hôn với ông L là có cơ sở.
  3. Về con chung: các bên thống nhất có 01 con chung tên Trần Nguyễn Văn L2 (nam), sinh ngày 07/9/2012, hiện tại cháu L2 đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu lập không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, cháu L2 cũng có nguyện vọng sống với bà T và ông L cũng thống nhất nên việc giao cháu L2 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên (18) tuổi là phù hợp.
  4. Về tài sản chung, nợ chung thấy rằng: Các bên thống nhất trình bày không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét các mối quan hệ này.

Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt là có cơ sở.

  1. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do đây là vụ án xin ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Trần Văn L.
  2. Về con chung: các bên thống nhất có 01 con chung tên Trần Nguyễn Văn L2 (nam), sinh ngày 07/9/2012. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị Kim T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L2 đến khi thành niên (18) tuổi, bị đơn ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm con cho ông L theo quy định.
  3. Về tài sản chung, nợ chung thấy rằng: Các bên trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét các mối quan hệ này.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Được trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0004908 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.Q. Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS TP.Cam Ranh;
  • - TAND TP.Cần Thơ
  • - Lưu (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Văn Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger