TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thắm
- Bà Nguyễn Kim Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 116/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kiên Thị D, sinh năm 1990
Địa chỉ thường trú: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ T, đường N, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn M, sinh năm 1988
Địa chỉ thường trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ T, đường N, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 04/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Kiên Thị D trình bày:
Về hôn nhân : Bà D và ông M qua thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức cưới được gia đình hai bên đồng ý. Đăng ký kết hôn vào ngày 05/9/2009 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Đến khi vợ chồng có con chung là cháu Võ Văn B được 01 tuổi thì vợ chồng lên Bình Dương sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do ông M không chí thú làm ăn, phụ giúp bà D chi phí sinh hoạt gia đình và lo cho con. Ông M còn ham mê đánh bạc với nhiều hình thức như đánh bài, chơi số đề.... Bà D phải thường xuyên trả nợ cho M. Vì thương con và muốn con đầy đủ cha mẹ, nên bà D chịu đựng và khuyên nhủ, nhưng ông M không thay đổi. Vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau mỗi người tự sống theo cách của mình. Vợ chồng đã ly thân gần 02 năm nay. Tình càm của bà D đối với ông M đã hết. Do đó bà D yêu cầu được ly hôn với ông M.
- Về con chung: Bà D và ông M có 01 con chung là cháu Võ Văn B, sinh ngày 16/10/2009. Bà D hiện làm công nhân thu nhập một tháng khoảng 10.000.000 đồng. Bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Bà D không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Văn M đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà án xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Bà D và ông M tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 05/9/2009 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, là hôn nhân hợp pháp.
Lý do bà D yêu cầu ly hôn với ông M vì cho rằng ông M không chí thú làm ăn, phụ giúp bà D chi phí sinh hoạt gia đình và lo cho con. Ông M còn ham mê đánh bạc với nhiều hình thức như đánh bài, chơi số đề.... Bà D phải thường xuyên trả nợ cho M. Vì thương con và muốn con đầy đủ cha mẹ nên bà D chịu đựng và khuyên nhưng ông M không thay đổi. Vợ chồng càng ngày càng mâu thuẫn và tình cảm càng ngày càng rạn nứt. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau mỗi người tự sống theo ý của mình. Vợ chồng đã ly thân gần 02 năm nay. Tình cảm của bà D đối với ông M đã hết. Do đó bà D yêu cầu được ly hôn với ông M.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông M đến tham gia hòa giải đoàn tụ, tham gia tố tụng, nhưng ông M đều vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Điều này cho thấy ông M không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân.
Đã có căn cứ khẳng định, mâu thuẫn giữa bà D và ông M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà D yêu cầu ly hôn với ông M là có căn cứ.
Về con chung: Bà D và ông M có 01 con chung là cháu Võ Văn B, sinh ngày 16/10/2009. Cháu B do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà D có việc làm và có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà D giao cháu B cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà D tự nguyện không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà D, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Đương sự không tranh chấp, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiên Thị D đối với bị đơn ông Võ Văn M về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bà Kiên Thị D được ly hôn với ông Võ Văn M.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Văn B, sinh ngày 16/10/2009 cho bà Kiên Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Kiên Thị D không yêu cầu ông Võ Văn M phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Kiên Thị D và ông Võ Văn M đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Võ Văn M được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Đương sự không tranh chấp,Tòa án không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Kiên Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000041 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Minh |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Kiên Thị D yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn M
