Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025.

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Luân;

Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 190/2025/TLST-HNGĐ ngày 05/5/2025 về việc: “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị T: Luật sư Nguyễn Bá Thị T1 – Văn phòng luật sư Dương Đình N – Thuộc đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Lưu Văn Đ, sinh năm: 1975; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà T, luật sư T1 và ông Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Ngày 02/02/2000 bà và ông Đ xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung với nhau tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân là do vợ chồng có quá nhiều sự khác biệt, bất đồng về quan điểm, tính cách sống, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng cũng đã nhiều lần nói chuyện, tìm cách để cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thể được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài khiến không khí trong gia đình luôn căng thẳng, mệt mỏi. Vợ chồng bà quyết định sống ly thân từ cuối năm 2003, bà chuyển về sinh sống ở tỉnh Bắc Giang được một thời gian thì ông Đ cũng chuyển đi nơi khác ở. Trong suốt quá trình sống ly thân vợ chồng không còn liên lạc, không còn sự quan tâm đến nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là Lưu Thành Q, sinh ngày 11/8/2000. Tuy nhiên, cháu Q đã chết vào năm 2020.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lưu Văn Đ trình bày: Ông xây dựng gia đình với bà T vào năm 2000, trên cơ sở tìm hiệu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn rồi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2003 cho tới nay. Nay bà T làm đơn xin ly hôn với ông thì ông đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung là Lưu Thành Q, sinh ngày 11/8/2000. Tuy nhiên, cháu đã chết do tai nạn giao thông vào năm 2020 nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông không có nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T có bản luận cứ bảo vệ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của bà T, xử cho bà T và ông Đ được ly hôn; ngoài ra, về con chung, tài sản chung và nợ chung xác định giữa bà T và ông Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T, xử cho bà T và ông Đ được ly hôn.

Về con chung: Bà T và ông Đ xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Lưu Thành Q, sinh ngày 11/8/2000. Tuy nhiên, cháu Q đã chết do tai nạn giao thông vào năm 2020, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T luật sư Nguyễn Bá Thị T1 và bị đơn ông Đ vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Lưu Văn Đ kết hôn trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 02 tháng 02 năm 2000 theo giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2000 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy rằng: Quá trình chung sống giữa bà T và ông Đ xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do do vợ chồng có nhiều sự khác biệt, bất đồng về quan điểm, tính cách sống, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Do không tìm được biện pháp giải quyết nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2003 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Còn ông Đ cũng xác định ông không còn tình cảm với bà T nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Do vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của bà T, xử cho bà T và ông Đ được ly hôn là phù hợp.

[3] Về con chung: Bà T và ông Đ xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Lưu Thành Q, sinh ngày 11/8/2000. Tuy nhiên, cháu Q đã chết do tai nạn giao thông vào năm 2020 các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị T, xử cho bà Lê Thị T và ông Văn Đ được ly hôn.

2. Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 00054144 ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Luân

Thạch Thị Lan Nhung

Trần Minh Huấn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - THA dân sự huyện Lâm Hà;
  • - UBND thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyết - Định ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger