|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-3-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Tùng;
- Ông Nguyễn Văn Trương .
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2024/TLST–HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Kim N, sinh năm 2001;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 2000;
Địa chỉ: ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Kim N trình bày:
Chị và anh L xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2020. Sau khi kết hôn anh, chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nhiều lần hàn gắn nhưng anh L vẫn không sửa chữa, vợ chồng hiện tại đã ly thân với nhau, chị N nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, tình cảm không còn chị N yêu cầu ly hôn với anh L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 29/12/2019. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Quang L vắng mặt không có ý kiến.
* Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh L có nơi cư trú tại xã B, thành phố G nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N xin ly hôn với anh L, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Chị N có đơn xin vắng mặt; anh L vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4]. Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị N chung sống với anh L từ năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố G, Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 96 ngày 06 tháng 7 năm 2020 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Thời gian chung sống đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, chị N cho rằng nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đã ly thân cho đến nay. Đối với bị đơn anh L từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến nay vắng mặt không lý do, cho thấy anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa anh L và chị N đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu nhưng anh L và chị N vẫn không thể hàn gắn được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 29/12/2019, khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại chị N có nghề nghiệp và thu nhập ổn định (Có xác nhận của chính quyền địa phương), anh L không có ý kiến gì về con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu T cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Nghị quyết số: 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim N.
- Về hôn nhân: Chị Lê Kim N được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Kim N được trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 29/12/2019. Anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí: Chị Lê Kim N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001022 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công. Như vậy, chị N đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thưa |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh L xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2020. Sau khi kết hôn anh, chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nhiều lần hàn gắn nhưng anh L vẫn không sửa chữa, vợ chồng hiện tại đã ly thân với nhau, chị N nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, tình cảm không còn chị N yêu cầu ly hôn với anh L.
