Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 6 - 2025

V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Chính;

Ông Phạm Ngọc Minh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh P, sinh năm 1994 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận

Bị đơn: Ông Trần Bình Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh P trình bày.

Về hôn nhân: Bà với ông Trần Bình Đ tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau 2016, có đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện N làm thủ đăng ký kết hôn vào năm 2018.

Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến tháng 02/2024 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Trần Bình Đ sống không có trách nhiệm với gia đình, đi làm không mang tiền về cho bà lo cho gia đình và con cái, phải để bà đi vay mượn người khác để lo cho con mỗi khi con bệnh đau, khi bà nói thì giữa tôi với ông Trần Bình Đ xảy ra cãi nhau, dùng những lời nói không tế nhị xúc phạm bà, nên từ đó mâu thuẫn giữa bà với ông Trần Bình Đ ngấm ngầm kéo dài cho đến nay thì trầm trọng, dẫn đến tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắt.

Hiện bà với ông Trần Bình Đ đã sống ly thân với nhau vào năm 2024 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân ông Trần Bình Đ cũng không liên lạc để hỏi thăm con con chung.

Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Trần Bình Đ, nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Bình Đ.

Hiện tại bà đang công nhân tại công ty T, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 7.000.000₫

Về con chung: Bà với ông Trần Bình Đ sống với nhau, có 01 con chung tên Trần Ngọc Kim D, sinh ngày 25-3-2018, hiện con chung đang sống với bà, nếu ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông Trần Bình Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Trần Bình Đ vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng:

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh P. Cho bà Bùi Thị Thanh P được ly hôn với ông Trần Bình Đ, giao con chung tên Trần Ngọc Kim D, sinh ngày 25-3-2018 cho bà Bùi Thị Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Bình Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc bà Bùi Thị Thanh P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay ông Trần Bình Đ vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Trần Bình Đ.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa xác định được bà Bùi Thị Thanh P và ông Trần Bình Đ, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 02-3-2018. Do đó, hôn nhân giữa bà Bùi Thị Thanh P và ông Trần Bình Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Bùi Thị Thanh P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Trần Bình Đ, vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm nhau từ năm 2024 đến nay, tình cảm vợ chồng đã hết. Vì vậy, bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Bình Đ. Đối với bị đơn ông Trần Bình Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, các văn bản tố tụng nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình không đến. Chứng tỏ ông Trần Bình Đ không có thiện chí đoàn tụ gia đình, không tha thiết bảo vệ hạnh phúc vợ, chồng. Vì, vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn và lời khai của bà Bùi Thị Thanh P là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Bùi Thị Thanh P và ông Trần Bình Đ đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thanh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2]. Về con chung: Bà Bùi Thị Thanh P trình bày, bà với ông Trần Bình Đ sống với nhau có 01 con chung tên Trần Ngọc Kim D, sinh ngày 25-3-2018. Hiện con chung đang sống với bà Bùi Thị Thanh P. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Bùi Thị Thanh P là người trực tiếp chăm sóc con chung từ khi bà Bùi Thị Thanh P và ông Trần Bình Đ sống ly thân chu đáo, con chung phát triển bình thường, hơn nữa cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung đã trên 07 tuổi, nguyện vọng được ở với mẹ, vì vậy phải tôn trọng nguyện vọng của con chung, nên giao con chung tên Trần Ngọc Kim D, sinh ngày 25-3-2018 cho bà Bùi Thị Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Bình Đ không cấp dưỡng nuôi con chung do chưa có yêu cầu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3.3]. Về tài sản, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh P. Bà Bùi Thị Thanh P được ly hôn với ông Trần Bình Đ.

2. Về con chung:

+ Giao con chung Trần Ngọc Kim D, sinh ngày 25-3-2018 cho bà Bùi Thị Thanh P là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. (Hiện con chung đang sống với bà Bùi Thị Thanh P).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Bùi Thị Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001501 ngày 27-3-2025 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Bùi Thị Thanh P đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - UBND xã Phước Hậu, Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thanh Bình

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN




Lê Quang Chính Phạm Ngọc Minh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger