Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thuý

Ông Lê Hữu Tới

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1997. Vắng mặt.

Số CCCD: [...].

Địa chỉ: TDP H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Mai Văn Q, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Số hộ chiếu: K0412176

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang sinh sống tại Đài Loan (Trung Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:

    Về hôn nhân: Tôi và anh Mai Văn Q kết hôn với nhau ngày 26/01/2022 trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố S, Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại Thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa hoà thuận, hạnh phúc. Đến tháng 5/2022 hai vợ chồng sang Đài Loan làm ăn sinh sống. Sau khi sang Đài Loan một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra tranh cãi nên tình cảm lạnh nhạt dần. Sau nhiều lần được hai bên gia đình hàn gắn nhưng cuộc sống không có tiến triển tốt, tình cảm cạn kiệt, dần dần không còn tình cảm với nhau. Từ tháng 9/2024 vợ chồng chính thức ly thân đến nay. Hiện tại tôi đã về Việt Nam sinh sống. Theo thông tin tôi biết thì hiện tại anh Q vẫn đang ở Đài Loan. Tôi đã nhiều lần yêu cầu anh Q về nước để thực hiện thủ tục ly hôn, hoặc cung cấp địa chỉ nơi anh Q đang sinh sống và làm việc mới tại Đài Loan, nhưng anh Q không về Việt Nam làm thủ tục ly hôn, không cung cấp địa chỉ cho tôi. Vì vậy, tôi đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá là nơi anh Q cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh giải quyết ly hôn cho vợ chồng tôi.

    Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

    Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

  2. Bị đơn là anh Mai Văn Q không có mặt tại Việt Nam, và không có địa chỉ ở nước ngoài.
  3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/02/2025 bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của anh Mai Văn Q trình bày:

    Vợ chồng chị Lê Thị H và anh Mai Văn Q kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố S do hai con tự nguyện, không ai ép buộc.

    Sau khi kết hôn, các con sống chung cùng với gia đình tôi tại thôn V được một thời gian thì hai con đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian sinh sống bên Đài Loan tôi cũng không rõ vợ chồng hai cháu mâu thuẫn với nhau thế nào. Thời gian gần đây tôi có nghe cháu Q nói hai vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Cháu Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2022, hiện vẫn đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan. Tôi không biết địa chỉ cụ thể tại Đài Loan của cháu Q nên không cung cấp cho Toà án được. Cháu Q thường xuyên gọi điện thoại về cho tôi nhưng không nói cho tôi biết địa chỉ của cháu.

    Tôi có nghe vợ chồng cháu Q nói là cháu H muốn ly hôn, việc ly hôn của hai cháu chúng tôi không mong muốn nhưng đây là quyền của hai cháu, tôi không có ý kiến gì. Cháu Q nói với tôi là đồng ý ly hôn với chị H nhưng do hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan, không về V giải quyết được nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Vợ chồng hai cháu Quang H1 chưa có con chung, không có tài sản chung và không nợ ai.

    Tôi đồng ý nhận tất cả các văn bản mà Toà án giao và cam kết sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho cháu Q biết.

  4. Tại phiên tòa sơ thẩm,
    • - Chị Lê Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Mai Văn Q không có mặt tại phiên tòa.
    • - Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:

      Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

      Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị H về ly hôn. Về án phí: Người khởi kiện phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Trong Đơn khởi kiện chị Lê Thị H trình bày hiện nay anh Mai Văn Q đang sinh sống tại Đài Loan. Tại công văn số: 203/XNC(T3) ngày 03/02/2025 của Phòng quản lý XNC Công an tỉnh T về việc trao đổi thông tin, lịch sử xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam, nội dung: Mai Văn Q, sinh ngày 15/01/1994; CCCD số: [...]; địa chỉ cư trú tại: Thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, ngày 06/5/2022 sử dụng hộ chiếu số C9969860 xuất cảnh qua sân bay N, đến nay chưa thấy có thông tin nhập cảnh về nước. Bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ anh Mai Văn Q) trình bày hiện nay anh Q đang làm ăn, sinh sống tại Đài Loan.

Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú trước khi xuất cảnh của anh Mai Văn Q ở Việt Nam, không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở nước ngoài. Gia đình anh Q thường xuyên liên lạc qua điện thoại với anh, nhưng không biết địa chỉ nơi làm việc, sinh sống hiện nay của anh tại Đài Loan.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố tụng cho gia đình anh Mai Văn Q, đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là nơi gia đình anh Q đang sinh sống; mẹ đẻ anh Q cam kết nhận văn bản, quyết định của Toà án và thông báo đầy đủ thông tin cho anh Mai Thế Q1.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q1 vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Lê Thị H:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị H và anh Mai Văn Q kết hôn năm 2022, có Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2022 do Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 26/01/2022, là hôn nhân hợp pháp.

Chị H trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và chính thức sống ly thân từ tháng 9/2024, gia đình hai bên đã dàn xếp nhưng không không giải quyết được mâu thuẫn, chị xác định tình cảm giữa chị và anh Q đã hết nên xin ly hôn. Theo gia đình anh Q thì chị H và anh Q đang có mâu thuẫn, anh Q biết việc chị H xin ly hôn và cũng đồng ý ly hôn với chị H.

Xét thấy, mâu thuẫn của chị H và anh Q đã trầm trọng, quá trình giải quyết vụ án, hai bên không có mong muốn hoặc biện pháp khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng, chị H xin ly hôn, thông qua gia đình anh Q đã biết chị H xin ly hôn và đồng ý ly hôn, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi nào của anh Q đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H, cho chị H được ly hôn anh Mai Văn Q.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
    • - Về hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Mai Văn Q.
    • - Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
    • - Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số: 0000847 ngày 17/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa (do Hoàng Thị D nộp thay).
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    Anh Mai Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày gia đình anh nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - P9 -VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương;
  • - Nguyên đơn; gia đình Bị đơn
  • - Lưu HSVA; Tòa HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger