Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Thành, ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh: Bà Phạm Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/TB-TLVA, ngày 14/10/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐ-ST ngày 28/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị: Bùi Ngọc N, sinh ngày 02/12/2001. Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Anh: Trần Quốc B, sinh ngày 19/7/1996. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống tại P. (Có ý kiến xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Bùi Ngọc N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc N và anh Trần Quốc B có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 06/5/2021 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự do tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm và văn hóa ứng xử khác nhau, nên cuối tháng 3 năm 2023 chị N về sống tại gia đình bố mẹ đẻ ở thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Đến tháng 01/2024, anh Trần Quốc B đi lao động tại P, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Bùi Ngọc N khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc B.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có có 01 con chung tên là Trần Quốc P, sinh ngày 18/5/2021. Hiện nay con đang sống cùng với chị Bùi Ngọc N, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Trần Quốc B phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Bùi Ngọc N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do công việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã về xác minh tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cũng như về xác minh tại gia đình ông Trần Quốc N1 (bố đẻ anh Trần Quốc B), tại buổi làm việc ông N1 đã kết nối cuộc gọi hình ảnh thông qua facebook anh B là “Bảo Trần”, anh B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: anh thống nhất về nội dung trình bày trong đơn khởi kiện của chị Bùi Ngọc N về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, chị N có đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý theo yêu cầu của chị N.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có có 01 con chung tên là Trần Quốc P, sinh ngày 18/5/2021. Hiện nay vì anh Trần Quốc B đang sinh sống và lao động tại P nên anh đồng ý với nguyện vọng của chị Bùi Ngọc N về việc giao con Trần Quốc P cho chị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Trần Quốc B đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng như đề nghị của chị N.

- Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay, anh Trần Quốc B đang sống và làm việc tự do tại Philipin nên không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, anh xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho ông Trần Quốc N1 trong việc tiếp nhận các giấy tờ từ Tòa án. Tại buổi làm việc, ông Trần Quốc N1 đồng ý tiếp nhận ủy quyền của anh Trần Quốc B.

Để có đầy đủ căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án đã gửi công văn đề nghị Ban đối ngoại đài tiếng nói Việt Nam đăng thông tin cho anh B. Đ đã đăng thông tin cho anh Trần Quốc B trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 23,24,25/12/2024 nhưng anh Trần Quốc B không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 BLTTDS, khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123,107, 110, 116,117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC cụ thể:

- Về tình cảm : chấp nhận yêu khởi kiện về việc ly hôn của chị Bùi Ngọc N được ly hôn với anh Trần Quốc B.

- Về con chung: giao con chung là Trần Quốc P, sinh ngày 18/5/2021 cho chị Bùi Ngọc N chăm sóc nuôi dưỡng, anh B được quyền thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: chấp nhận đề nghị của chị N về việc anh B cấp tiền nuôi dưỡng con chung mỗi tháng 2.000.000đ.

- Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV chị Bùi Ngọc N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Anh Trần Quốc B chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Bùi Ngọc N và anh Trần Quốc B có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 06/5/2021 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự do tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm và văn hóa ứng xử khác nhau, nên cuối tháng 3 năm 2023 chị N về sống tại gia đình bố mẹ đẻ ở thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Đến tháng 01/2024, anh Trần Quốc B đi lao động tại P, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Bùi Ngọc N khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc B.

Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội vì lý do công việc nên chị N có ý kiến vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Anh Trần Quốc B hiện đang sống và lao động tại P. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 1088/QLXNC-Đ1, ngày 25/10/2024 của Phòng Q Công an tỉnh H, xác nhận thông tin: Anh Trần Quốc B, sinh ngày 19/7/1996, địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh gần nhất 29/012024 qua sân bay quốc tế N, không thấy thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Anh Trần Quốc B đang lao động tại Philippin không có địa chỉ cụ thể, thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc N và anh Trần Quốc B có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 06/5/2021 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự do tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị N, anh B là hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Quốc B.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã về xác minh tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cũng như về xác minh tại gia đình ông Trần Quốc N1 (bố đẻ anh Trần Quốc B), tại buổi làm việc ông N1 đã kết nối cuộc gọi hình ảnh thông qua facebook anh B là “Bảo Trần”, anh B trình bày: Về quan hệ hôn nhân: anh B thống nhất về nội dung trình bày trong đơn khởi kiện của chị Bùi Ngọc N về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, chị N có đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Bùi Ngọc N được ly hôn với anh Trần Quốc B.

[2.2] Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Trần Quốc P, sinh ngày 18/5/2021 cho chị Bùi Ngọc N chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Trần Quốc B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng và được quyền thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Bùi Ngọc N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Anh Trần Quốc B phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 BLTTDS, khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123,107, 110, 116,117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc N được ly hôn với anh Trần Quốc B.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Quốc P, sinh ngày 18/5/2021 cho chị Bùi Ngọc N chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Trần Quốc B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng và được quyền thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Ngọc N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000091 ngày 10/10/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

Buộc anh Trần Quốc B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

4. Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị Bùi Ngọc N phải chịu 2.250.000đ tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Chị Bùi Ngọc N đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Thạch Xuân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Quân

Trần Đăng Ninh

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger