Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12 tháng 06 năm 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Thúy và bà Dương Việt Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Kim H, sinh năm 1990. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1990. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đ tự nguyện quen biết trên tinh thần tự nguyện, chung sống vợ chồng từ năm 2012, đến ngày 28/8/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn; dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà và ông Đ đã sống ly thân mấy năm nay. Hiện nay, tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến nay, bà nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, việc tiếp tục chung sống chỉ làm khổ cho cả hai người và cuộc sống vợ chồng thường xuyên cải vả cũng làm ảnh hưởng đến tâm lý, tương lai của các con. Nay bà thấy cuộc sống hôn nhân không thể nào hàn gắn được, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông Đ và tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn với ông Đ.

+ Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015 (hiện hai cháu đang ở với bà). Nay ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015.

Về cấp dưỡng: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn ông Đ đã được Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử hợp lệ nhưng đều vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định.

- Về nội dung vụ án: Sau khi phân tính, đánh giá các tình tiết nội dung vụ án. Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Có đủ sơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thạch Thị Kim H đối với ông Trần Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015 cho bà Thạch Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bà H yêu cầu ly hôn với ông Đ, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1.1] Bà H và ông Đ tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[2.1.2] Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn vợ chồng được bà H xác định là: Do giữa bà và ông Đ không có tiếng nói chung; không hợp tính tình; thường xuyên cải vả; ông Đ không quan tâm chăm sóc gia đình; vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng đã sống ly thân, không thể nào hàn gắn được. Nay bà thấy cuộc sống hôn nhân không thể nào hàn gắn được, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã đến mức trầm trọng nữa nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn với ông Đ.

[2.1.3] Hội đồng xét xử - Xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình nhưng nay bà H cương quyết yêu cầu ly hôn với ông Đ. Tòa án có thông báo triệu tập ông Đ nhưng ông Đ không quan tâm, không đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn, cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng thì vợ chồng cũng không thể hàn gắn đoàn tụ để chung sống tiếp tục. Hơn nữa bà H xác định không thể tiếp tục chung sống, đã sống ly thân, cũng như không còn tình cảm với ông Đ và cương quyết yêu cầu được ly hôn chứng tỏ sự rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của cả hai không có khả năng hàn gắn lại được, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, việc hàn gắn đoàn tụ phải trên cơ sở tự nguyện, phải xuất phát từ cả hai phía. Đồng thời, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, bà H yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với ông Đ thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được.

[2.1.4] Từ phân tích nêu trên cho thấy hôn nhân giữa bà H và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông Đ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung:

[2.2.1] Quá trình chung sống bà H và ông Đ có 02 con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015. Hiện các con chung đang sống chung với bà H.

[2.2.2] Tại biên bản tiếp xúc ghi nhận ý kiến con chưa thành niên em Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015: Các con có nguyện vọng muốn sống chung cùng mẹ.

[2.2.3] Quá trình giải quyết vụ án bà H có yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015. Sau khi thụ lý vụ án thì Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Đ, quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Đ không có ý kiến gì gửi đến Tòa án về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

[2.2.4] Hội đồng xét xử xét thấy: Cả hai con chung Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015 đều có nguyện vọng sống chung với mẹ. Đây là sự tự nguyện của các con, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với yêu cầu của bà H. Do đó, việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là có cơ sở và cũng phù hợp với nguyện vọng của các con. Do đó, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H. Giao con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung; ông Đ cũng không thể hiện ý kiến của mình về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về tài sản chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu xem xét. Về nợ chung: Bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét. Ông Đ cũng không thể hiện ý kiến của mình về việc chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng: Bà H yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng.

[5] Chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dung Khoản 1 Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thạch Thị Kim H đối với ông Trần Văn Đ. Cho bà Thạch Thị Kim H ly hôn với ông Trần Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Văn H1, sinh ngày 01/12/2012 và Trần Thị Thanh T, sinh ngày 06/06/2015 cho bà Thạch Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (Hiện hai cháu đang ở với bà H). Ông Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.

  3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

    Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

  4. Về án phí: Bà Thạch Thị Kim H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Thạch Thị Kim H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005920 ngày 13/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND huyện Hoàn Bình;
  • -CCTHADS huyện Hòa Bình;
  • - Ủy ban nhân dân Nơi ĐKKH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thị Mỹ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger