|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06/06/2025 V/v: Ly hôn giữa chị Dư và anh Mạnh. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yến, ông Trương Thanh Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “ Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 40/2025/QÐST - HNGĐ ngày 19/5/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1977 (có mặt).
Bị đơn: Anh Đỗ Quang M, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 11/3/2025 và trong các lời khai chị Nguyễn Thị D là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Quang M ngày 04/12/1995, trước khi kết hôn anh chị có được tìm hiều tự nguyện, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là thị trấn) Phương S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn giữa anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay đe dọa. Khi kết hôn anh chị có được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau tại TDP K, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Qúa trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau. Chị và anh M đã ly thân từ năm 2023 đến nay không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh M.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung Đỗ Thúy D1, sinh ngày 09/11/1996; Đỗ Linh G, sinh ngày 19/10/2002 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 11/8/2011. Cháu D1 và G đã đủ tuổi trưởng thành nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu D2 chị đề nghị được trực tiếp nuôi, do cháu D2 hiện nay đang ở với chị. Cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay chị đang làm công việc chính là kinh doanh tại gia đình buôn bán hàng tạp hoá, thu nhập hàng tháng trung bình một tháng thu nhập từ 8- 9 triệu. Ngoài ra chị D còn làm thêm công tác xã hội là Chi hội trưởng chi hội phụ nữ của Tổ dân phố Kẻn thu thập hàng tháng được Nhà nước chi trả là 2.500.000 đồng.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh M sẽ tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tạo phiên tòa chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Đỗ Quang M trình bày: Anh nhất trí với lời khai của chị D về ngày tháng kết hôn con chung, còn về nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, do chị D không còn tình cảm với anh. Anh phát hiện chị D ngoại tình. Hai vợ chồng đã tự hoà giải nhiều lần nhưng không được. Anh không muốn gia đình tan vỡ nhưng chị D nhất quyết ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung Đỗ Thúy D1, sinh ngày 09/11/1996; Đỗ Linh G, sinh ngày 19/10/2002 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 11/8/2011. Cháu D1 và G đã đủ tuổi trưởng thành nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu D2 anh đề nghị được trực tiếp nuôi. Cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh M vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Đỗ Văn M1.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi con Đỗ Đức D2, sinh ngày 11/8/2011. Cấp dưỡng nuôi con các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn anh M1 được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M1 thực hiện quyền này.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Anh M1 có hộ khẩu thường trú tại TDP K, TT P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị D kết hôn với anh Đỗ Vă M2 năm 1995 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M2, ý kiến của anh M2 không nhất trí ly hôn nhưng chị D nhất quyết ly hôn thì anh M2 đồng ý như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị D ly hôn với anh M2 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung chung Đỗ Thúy D1, sinh ngày 09/11/1996; Đỗ Linh G, sinh ngày 19/10/2002 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 11/8/2011. Cháu D1 và G đã đủ tuổi trưởng thành nên HĐXX không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu D2 cả anh M2 chị D đều đề nghị được trực tiếp nuôi cháu D2. Cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị D thu nhập bình quân 8-9 triệu /tháng đủ điều kiện chăm sóc cháu D2. Nguyện vọng của cháu D2 cũng đề nghị được ở với mẹ nên HĐXX quyết định giao cháu D2 cho chị D chăm sóc nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh M2 được quyền thăm nom con chung, không được cản trở anh M2 thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản, công nợ: Chị Dư Anh M3 không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị D phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm,
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Dư ly H anh Đỗ Văn M1.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi con Đỗ Đức D2, sinh ngày 11/8/2011. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn anh M1 được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M1 thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 19/3/2025 theo biên lai thu số 0004690.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp con chung
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
