trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/DSST

Ngày: 26-11-2025

V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Báu và ông Lê Quang Chính
  • Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 303/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST ngày 27 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2025/QÐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị - Ngân hàng thương mại cổ phần V (Vắng mặt);
    • Địa chỉ: Tòa V, số H L, phường L, thành phố Hà Nội
    • - Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Dương K - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ – Ngân hàng thương mại cổ phần V (Văn bản ủy quyền số 945/2025/UQ-VPB ngày 06 tháng 3 năm 2025) (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
    • Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, D N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh
    • Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ khởi kiện của nguyên đơn: Công ty cổ phần M3
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
    • Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, D, Cầu G, Hà Nội
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hán Ngọc H – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Công ty cổ phần M3 (Văn bản ủy quyền số 5915/2025/UQ-MARS ngày 18 tháng 11 năm 2025 (Có mặt)
    • Địa chỉ: Tầng 4, toà nhà Cityhouse, 48B Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Bị đơn:
    • - Bà Hồ Thị M, sinh năm 1990 (vắng mặt)
    • - Ông Cao Thanh L, sinh năm 1990 (vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: Thôn Hòa Thạnh, xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Cao Thị T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
    • - Ông Nguyễn Thắng M1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tham gia tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V (Viết tắt: Ngân hàng V1) ông Trần Dương K trình bày:

Vào ngày 29-11-2023, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L có làm hợp đồng vay tín dụng số 10084716 để vay Ngân hàng V1 với số tiền vay là 614.773.705đ, mục đích là bổ sung vốn kinh doanh cà phê, với lãi suất trong hạn là 7.49%/năm cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân sau đó định kỳ điều chỉnh lãi suất 3 tháng 1 lần theo biên độ 4%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, thời hạn là 12 tháng, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L có làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2302098318227, ngày 15-02-2023, đối với thửa đất và tài sản gắn liền trên đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa).

Từ ngày 13-6-2024, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không chịu thanh toán cho Ngân hàng V1. Ngân hàng V1 cũng đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L, nhưng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do vậy, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng V1 về việc trả nợ.

Đến ngày 25-12-2024, Ngân hàng V1 đã bán lại một phần nợ của bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L cho Công ty M3.

Đến nay bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L cũng đã phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Nay Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả số tiền tổng cộng là 75.427.409đ (Trong đó nợ gốc là 61.477.371đ; Nợ lãi trong hạn là 3.496.076đ; Nợ lãi quá hạn là 10.453.963đ) (Tạm tính đến ngày 26/11/2025).

Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L còn phải tiếp tục số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày tiếp theo của 26/11/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Ngân hàng V1 và công ty M3 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 398583, số vào sổ cấp GCN: H 01227 do UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Cũ) cấp ngày 24/9/2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017, theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ) và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ).

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên, mà bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vẫn chưa trả hết nợ thì vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng V1.

Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M3 (Viết tắt: Công ty M3) ông Trần Vi Quang M2 trình bày:

Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L có vay của Ngân hàng V1 hợp đồng cho vay hạn mức số 10084716 ký ngày 29/11/2023 với thông tin khoản nợ cụ thể như sau: Số tiền vay: 614.773.705đ; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh cà phê; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn: 7.49%/năm cố định 3 tháng kể từ ngảy giải ngân sau đó định kỳ điều chỉnh lãi suất 3 tháng 1 lần theo biên độ 4%/năm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 13/6/2024. Do đó, toàn bộ các khoản vay của bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L tại Ngân hàng V1 đã chuyển sang nợ quá hạn và bị áp dụng lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng/Hợp đồng cho vay/Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, Khế ước nhận nợ, Điều kiện giao dịch chung do Ngân hàng V1 ban hành trong từng thời kỳ và các văn kiện tín dụng kèm theo.

Đến ngày 25/12/2024, Ngân hàng V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M3 đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với bà bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L theo Hợp đồng mua bán nợ số 18/2024/VPB-MARS và phụ lục kèm theo, cụ thể như sau:

  • Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 10084716 ký ngày 29/11/2023, của Ngân hàng V1 còn lại là 10%.

Dư nợ tạm tính đến ngày 26/11/2025 của khoản vay tại Công ty M3 tổng cộng là 670.819.681đ (Trong đó nợ gốc 553.296.335đ; Nợ lãi trong hạn 31.464.680đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681đ).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 398583, số vào sổ cấp GCN: H 01227 do UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Cũ) cấp ngày 24/9/2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017, theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ) và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ).

Vì vậy, Công ty Cổ phần M3 đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V và đồng thời yêu cầu Toà án giải quyết:

Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải thanh toán cho Công ty M3 số tiền tổng cộng là 670.819.681đ (Trong đó nợ gốc 553.296.335đ; Nợ lãi trong hạn 31.464.680đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681đ) (tạm tính đến hết ngày 26/11/2025).

Buộc ra bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải thanh toán cho Công ty M3 số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày tiếp theo của 26/11/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Công ty M3 và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 398583, số vào sổ cấp GCN: H 01227 do UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Cũ) cấp ngày 24/9/2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017, theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ) và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ), theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ) và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ).

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên, mà bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vẫn chưa trả hết nợ thì vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Công ty M3.

Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án Công ty M3 có tạm ứng 1.500.000₫ chi phí tố tụng, nay Công ty M3 yêu cầu bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải hoàn trả lại số tiền trên cho Công ty cổ phần M3.

Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Hồ Thị M trình bày như sau:

Vào ngày 29-11-2023, thì bà và chồng là ông Cao Thanh L có làm hợp đồng vay tín dụng số 10084716 để vay Ngân hàng V1 với số tiền vay là 614.773.705đ, mục đích là bổ sung vốn kinh doanh cà phê, với lãi suất trong hạn là 7.49%/năm cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân sau đó định kỳ điều chỉnh lãi suất 3 tháng 1 lần theo biên độ 4%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, thời hạn là 12 tháng, vợ chồng bà có làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2302098318227, ngày 15-02-2023, đối với thửa đất và tài sản gắn liền trên đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa). Ngày 13-6-2024, thì vợ chồng bà còn nợ tiền Ngân hàng V1, đến ngày 25-12-2024 Ngân hàng V1 bán lại một phần nợ của vợ chồng bà cho Công ty M3.

Đến nay vợ chồng bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Công ty M3.

Nay Ngân hàng và Công ty M3 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả số tiền cụ thể như sau:

Đối với nợ của Ngân hàng tổng cộng là 75.427.409₫ (Trong đó nợ gốc là 61.477.371đ; Nợ lãi trong hạn là 3.496.076đ; Nợ lãi quá hạn là 10.453.963đ) (Tạm tính đến hết ngày 26/11/2025), thì vợ chồng bà đồng ý trả số tiền trên và tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo.

Đối với nợ của Công ty M3 tổng cộng là 670.819.681₫ (Trong đó nợ gốc 553.296.335₫; Nợ lãi trong hạn 31.464.680đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681đ) (tạm tính đến hết ngày 26/11/2025), thì vợ chồng bà đồng ý trả số tiền trên và tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo.

Vợ chồng bà đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số LN2302098318227, ngày 15-02-2023, đối với thửa đất và tài sản gắn liền trên đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa); giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 398583 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 24-9-2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017.

Nếu trường hợp vợ chồng bà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì vợ chồng bà đồng ý để cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) cho Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên, mà vợ chồng bà vẫn chưa trả hết nợ, thì vợ chồng bà vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Vợ chồng bà đồng ý tra cho Công ty M3 số tiền tạm ứng 1.500.000₫ chi phí tố tụng.

Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Ông Cao Thanh L vắng mặt, nhưng ông Cao Thanh L vẫn có ý kiến đồng ý với ý kiến của bà, vì bà đã nhận mọi thông báo của Tòa án và giao cho ông Cao Thanh L biết, nhưng do ông Cao Thanh L bận công việc làm ăn không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Cao Thanh L vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị T1 trình bày như sau:

Hiện tại bà với chồng bà là ông Nguyễn Thắng M1 đang sống, trên thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa).

Đối với thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) là của vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vợ chồng bà chỉ ở nhờ trên đất, vì chưa có chỗ ở khác.

Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L có vay tiền của Ngân hàng với Công ty M3 và đã thế chấp quyền sử dụng đất trên. Nay bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Công ty M3, vì vậy Ngân hàng và Công ty M3 khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L trả nợ, thì vợ chồng bà không có ý kiến hay tranh chấp gì. Nếu trường hợp sau này bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Công ty M3, thì Ngân hàng và Công ty M3 yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tại thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) của bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L, thì vợ chồng bà cũng đồng ý, không có ý kiến gì.

Ngoài ra không yêu cầu gì thêm

Ông Nguyễn Thắng M1 là chồng của bà vắng mặt, nhưng ông Nguyễn Thắng M1 vẫn đồng ý với ý kiến của bà, vì bà đã nhận mọi thông báo của Tòa án và giao cho ông Nguyễn Thắng M1 biết, do ông Nguyễn Thắng M1 bận công việc làm ăn không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thắng M1 vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Đối với nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 327, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Đề xuất nội dung giải quyết vụ án như sau:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng V1 và Công ty M3.
  • + Buộc bị đơn bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 26-11-2025 tổng cộng là 75.427.409đ (Trong đó nợ gốc là 61.477.371đ; Nợ lãi trong hạn là 3.496.076đ; Nợ lãi quá hạn là 10.453.963đ) cho Ngân hàng V1.
  • + Buộc bị đơn bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 26-11-2025 tổng cộng là 670.819.681đ (Trong đó nợ gốc 553.296.335đ; Nợ lãi trong hạn 31.464.680đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681đ) cho Công ty M3.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 26-11-2025, buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trọng hợp đồng tín dụng, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất đã ký kết với Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Trường hợp, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Công ty M3 và Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 398583, số vào sổ cấp GCN: H 01227 do UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Cũ) cấp ngày 24/9/2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017, theo hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ) và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 tại Phòng C tỉnh Ninh Thuận (Cũ).

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên mà bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L vẫn chưa trả hết nợ thì vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng V1 và Công ty M3.

Về án phí: Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Buộc Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền 1.500.000đ chi phí tố tụng cho Công ty M3.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L trả khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng mà bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đã ký kết với Ngân hàng. Bị đơn bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L cư trú tại thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, đây là vụ án dân sự tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[3]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn và người kế thừa một phần khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét nhận định như sau:

[3.1]. Xét về nội dung và hình thức, thẩm quyền ký kết Hợp đồng tín dụng số: LN2302098318227, ngày 15-02-2023 giữa Ngân hàng TMCP V với bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L là hoàn toàn tự nguyện, được lập thành văn bản, có chữ ký các bên, có hình thức và nội dung phù hợp quy định tại Điều 100, Điều 107 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ, buộc các bên phải thực hiện. Căn cứ hợp đồng tín dụng giữa các bên do nguyên đơn đưa ra và bị đơn không có ý kiến phản bác đối với các tài liệu này. Vì vậy, đủ cơ sở xác định, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 614.773.705đ, mục đích là bổ sung vốn kinh doanh cà phê, với lãi suất trong hạn là 7.49%/năm cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân sau đó định kỳ điều chỉnh lãi suất 3 tháng 1 lần theo biên độ 4%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, thời hạn là 12 tháng. Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đã được giải ngân đủ số tiền vay 614.773.705đ. Tính đến nay, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L chưa trả được bất kỳ khoản nợ gốc, lãi nào cho Ngân hàng.

[3.2]. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhỡ, đôn đốc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L trả nợ nhưng vẫn cố tình không trả nợ gốc, lãi là vi phạm khoản 10 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng. Do đó, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ này sang nợ quá hạn từ ngày 13-6-2024 đến nay và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn đã thỏa thuận là phù hợp với khoản 9 Điều 1 của hợp đồng tín dụng đã ký kết và Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Tính đến ngày 26/11/2025, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 746.247.090đ (Trong đó nợ gốc là 614.773.706đ; Nợ lãi trong hạn là 34.960.756đ; Nợ lãi quá hạn là 96.512.629₫).

[3.3] Tại Hợp đồng mua bán nợ số: 18/2024/VPB-MARS ngày 25/12/2024 giữa Ngân hàng TMCP V đồng ý bán và Công ty Cổ phần M3 đồng ý mua 90% giá trị khoản nợ phát sinh của Hợp đồng tín dụng số: LN2302098318227, ngày 15-02-2023. Do đó, hiện nay bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V 10% giá trị khoản nợ, tiền lãi phát sinh và phải trả cho Công ty Cổ phần M3 là người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng TMCP V tương ứng 90% giá trị khoản nợ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng này theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 là có căn cứ chấp nhận. Cụ thể: Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 75.427.409₫ (Trong đó nợ gốc là 61.477.371đ; Nợ lãi trong hạn là 3.496.076đ; Nợ lãi quá hạn là 10.453.963đ) (tạm tính đến ngày 26-11-2025), tương ứng 10% giá trị khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và phải trả cho Công ty Cổ phần M3 tổng số tiền tổng cộng là 670.819.681đ (Trong đó nợ gốc 553.296.335đ; Nợ lãi trong hạn 31.464.680đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681đ) (tạm tính đến ngày 26-11-2025), tương ứng 90% giá trị khoản nợ theo hợp đồng tín dụng.

[3.4]. Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 yêu cầu bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 26/11/2025 trên dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là đúng quy định tại Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên được chấp nhận.

[3.5]. Về yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023, để đảm bảo thi hành án và yêu cầu khi tổ chức thi hành án, vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L và vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 có nghĩa vụ bàn giao tài sản cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp này có nội dung bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đồng ý thế chấp tài sản là thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 398583, số vào sổ cấp GCN: H 01227 do UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Cũ) cấp ngày 24/9/2007. Cập nhật thay đổi chủ sở hữu/sử dụng cho bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L ngày 23/5/2017, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay của bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L đối với khoản nợ nêu trên. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định: Thửa đất số 60a, tờ bản đồ số 17a, tọa lạc tại địa chỉ: thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa) do vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 đang trực tiếp quản lý, trên đất có 01 căn nhà cấp 4; 01 nhà bếp; 01 nhà vệ sinh; 01 phòng karaoke nay để ở; 01 mái che lợp bằng tôn. Xét về nội dung và hình thức, thẩm quyền ký kết hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, được lập thành văn bản, có chữ ký các bên, đã được công chứng, chứng thực và đăng ký thế chấp hợp pháp nên có hình thức và nội dung phù hợp. Do đó, Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án đối với khoản nợ này; Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Căn cứ vào các điều 317, 319 và 320 Bộ luật Dân sự, việc Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp trên, yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là có căn cứ nên được chấp nhận. Ghi nhận tài sản thế chấp nêu trên hiện do vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 đang quản lý. Khi tổ chức thi hành án, vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 và vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý theo quy định.

[4]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Khánh Hoà về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

[5]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần M3 đã nộp tạm ứng số tiền 1.500.000đ để xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, nay Công ty Cổ phần M3 yêu cầu vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả lại số tiền trên là có cơ sở chấp nhận. Buộc vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải trả lại số tiền 1.500.000₫ Công ty Cổ phần M3.

[6]. Về án phí:

  • - Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Bị đơn bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 26, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Các điều 288, 317, 319, 320, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; các điều 10, 100, 103 và 107 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/NQ-HĐTP ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.

    Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải liên đới có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 26-11-2025 là 75.427.409đ (Trong đó nợ gốc là 61.477.371đ; Nợ lãi trong hạn là 3.496.076đ; Nợ lãi quá hạn là 10.453.963₫).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày 26/11/2025, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: LN2302098318227, ngày 15-02-2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).

  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần M3.

    Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải liên đới có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 26-11-2025 là 670.819.681₫ (Trong đó nợ gốc 553.296.335₫; Nợ lãi trong hạn 31.464.680 đ; Nợ lãi quá hạn 86.058.681₫).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày 26/11/2025, bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: LN2302098318227, ngày 15-02-2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).

  3. Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023, để đảm bảo thi hành án. Trường hợp bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M3 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 để thu hồi nợ. Ghi nhận tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp công chứng số 590, Quyển số: 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung thế chấp công chứng số 6565, Quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2023 hiện do vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 đang quản lý. Khi tổ chức thi hành án, vợ chồng bà Cao Thị T1, ông Nguyễn Thắng M1 và vợ chồng bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải liên đới có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty Cổ phần M3 số tiền 1.500.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí:
    • - Bà Hồ Thị M và ông Cao Thanh L phải liên đới chịu 33.849.884đ án phí dân sự sơ thẩm.
    • - H1 lại cho Ngân hàng TMCP V 14.295.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004248 ngày 12/12/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước (nay là Phòng THADS khu vực 8 - Khánh Hòa).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Các đương sự;
  • - THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Bình

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Minh Lê Quang Chính

Nguyễn Thanh B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/DSST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 62/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger