Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

Bản án số: 62/2025/DS-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Út.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mỹ Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;

Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Huỳnh Thị Bích P – Chức vụ: Trưởng PGD X thuộc chi nhánh G (Quyết định ủy quyền số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024).

Ủy quyền lại cho: ông Đặng Minh T – Chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân Xóm Mới (có mặt);

Địa chỉ: 1 ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre (Giấy ủy quyền ngày 18/02/2025).

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1963 (có mặt);

2.2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1962 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1959 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2025, các bản tự khai và tại phiên tòa, ông Đặng Minh T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024. Chi tiết như sau: phương thức và số tiền vay: dư nợ giảm dần với số tiền là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: một tỷ đồng); mục đích cho vay: vay linh hoạt (phát triển kinh tế gia đình); thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất: lãi suất 03 tháng đầu 9,5%/năm. Kể từ tháng thứ 4, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được Ngân hàng niêm yết tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,0%/năm, định kỳ điều chỉnh 3 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Để thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ bằng Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/3/2024; số tiền giải ngân: 470.000.000 đồng; phương thức giải ngân: chuyển tiền vào tài khoản số 220.915.439 của Phạm Thị Như Q tại Ngân hàng A - P1; thời hạn cho vay: 12 tháng từ ngày 08/3/2024 đến ngày 08/3/2025 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 08/3/2024; số tiền giải ngân 530.000.000 đồng; phương thức giải ngân: chuyển tiền vào tài khoản số 989.898.6666 của Lê Công Đức M1 tại Ngân hàng V – P2.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản cấp tín dụng thành nợ quá hạn từ tháng 11/2024.

Mặc dù, Ngân hàng thường xuyên đôn đốc, làm việc trực tiếp để yêu cầu ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ chủ động xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn để trả nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, vi phạm khoản 1.2 Điều 1 và điểm b khoản 2.1 Điều 2 đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 13/6/2025, ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.

Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm sau:

Thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL777535, số vào sổ cấp GCN CS 04759 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 25/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, loại đất LN; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành Đ 327733, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02608 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 14/6/2004, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 03/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

Tài sản thế chấp cho Ngân hàng căn cứ theo: hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 683, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An ngày 07/3/2024.

Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 13/6/2025 là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.
  2. Và lãi phát sinh kể từ ngày 14/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và các Phụ lục hợp đồng tín dụng.

  3. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ không trả được nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
  4. - Thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL777535, số vào sổ cấp GCN CS 04759 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 25/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

    - Thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, loại đất LN; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành Đ 327733, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02608 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 14/6/2004, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 03/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

Trường hợp sau khi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho đến khi trả hết nợ.

- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn M cùng thống nhất trình bày:

Ông M và bà Đ cùng xác định có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024. Nội dung hợp đồng tín dụng như Ngân hàng trình bày.

Thực hiện quan hệ tín dụng, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho ông M và bà Đ số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01 và Giấy nhận nợ số 02 cùng ngày 08/3/2024.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông M và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Lý do ông bà không có thu nhập và gặp khó khăn trong việc trả nợ cho Ngân hàng, không thanh toán đúng hạn như đã nêu trong Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ.

Ông M, bà Đ đồng ý tính đến ngày 13/6/2025, ông M, bà Đ còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền: 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S thì ông M và bà Đ đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng cụ thể:

  1. Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ đồng ý liên đới trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.
  2. Và lãi phát sinh kể từ ngày 14/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và các Phụ lục hợp đồng tín dụng.

  3. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ không trả được nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
  4. - Thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL777535, số vào sổ cấp GCN CS 04759 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 25/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

    - Thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, loại đất LN; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành Đ 327733, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02608 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 14/6/2004, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 03/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

Trường hợp sau khi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chi phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho đến khi trả hết nợ.

Tuy nhiên, ông M và bà Đ không có khả năng trả ngay cho Ngân hàng nên đề nghị Ngân hàng cho ông bà thời gian trong vòng 06 tháng để ông bà bán đất trả hết toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 20/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà là chị ruột của bà Nguyễn Thị Đ. Trước đây bà đứng tên chủ sử dụng 02 quyền sử dụng đất thửa đất số 435 và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau này bà thực hiện thủ tục tặng cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ. Hiện nay bà đang sinh sống tại căn nhà cất trên 02 thửa đất và chăm sóc cây cối trên đất. Tuy nhiên, bà xác định 02 thửa đất trên, căn nhà, cây cối cùng toàn bộ tài sản khác có trên đất thuộc quyền sở hữu của ông M và bà Đ.

Đối với việc ông M, bà Đ thế chấp 02 thửa đất và tài sản có trên 02 thửa đất để vay vốn ngân hàng thì bà không có ý kiến gì.

Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án các cấp.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
  2. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    • Về thẩm quyền thụ lý vụ án: đúng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
    • Xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: đúng quy định Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Việc thu thập chứng cứ: Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Việc tống đạt cho các đương sự: đúng quy định.
    • Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng với quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Người tham gia tố tụng gồm có nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

  3. Về việc giải quyết vụ án: xét nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án nhận thấy:
  4. Về hiệu lực Hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024, giữa Ngân hàng TMCP S - PGD Xóm Mới với ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

    Về yêu cầu trả nợ: quá trình thực hiện hợp đồng, Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng.

    Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông M, bà Đ không trả được nợ. Số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 13/6/2025 là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.

    Do ông M, bà Đ vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng yêu cầu Tòa buộc ông bà phải trả số tiền nợ trên là phù hợp với Điều 463, 466 BLDS nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

    Về lãi suất: Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông M, bà Đ phải trả là phù hợp với Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu nguyên đơn.

    Về xử lý tài sản thế chấp: ông M, bà Đ có thế chấp tài sản để bảo đảm số tiền vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, xã L, huyện C, tỉnh Long An, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An. Các Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký theo đúng quy định pháp luật. Hiện tại tài sản thế chấp do bị đơn trực tiếp quản lý sử dụng, không ai có ý kiến phản đối. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp phía bị đơn không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì phát mãi tài sản thế chấp trên là phù hợp.

    Vợ chồng ông M, bà Đ xác nhận đã ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp với ngân hàng nội dung đúng như ngân hàng đã khởi kiện, thừa nhận còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 13/6/2025 là 1.080.325.902 đồng, đồng ý trả nợ cho ngân hàng số nợ này. Trường hợp không thanh toán được hoặc thanh toán không đầy đủ thì ông bà đồng ý để ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất để cho ngân hàng thu hồi nợ. Các bên đã xác nhận về tiền nợ, lãi, xử lý tài sản thế chấp đây là điều không phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS. Việc ông M, bà Đ xin gia hạn thêm thời gian trong vòng 06 tháng để bán đất trả nợ, không được Ngân hàng chấp nhận. Pháp luật cũng không có quy định về việc gia hạn thời hạn trả nợ cho bị đơn nên đề nghị này của bị đơn không được xem xét chấp nhận.

    Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận.

    Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện C: căn cứ Điều 92, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, 317, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

    • Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ phải trả tiền nợ tính đến hết ngày 13/6/2025 là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng. Ông M và bà Đ tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đến khi thanh toán xong nợ.
    • Trường hợp phía bị đơn không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì tiến hành phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đối với các thửa đất đã thế chấp trên.
    • Về án phí: ông M, bà Đ được miễn án phí do là người cao tuổi.
  5. Yêu cầu kiến nghị, khắc phục vi phạm: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ngân hàng TMCP S khởi kiện Tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ. Ông M, bà Đ có nơi cư trú tại xã L, huyện C nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà B theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Hiệu lực của Hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024 giữa Ngân hàng TMCP S với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ; Hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Đ được xác lập giữa các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự; chủ thể hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Riêng Hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 683, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An ngày 07/3/2024 nên Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024, Hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 phát sinh hiệu lực giữa các bên.

[2.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự xác định: ngày 07/3/2024, giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ ký Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024. Chi tiết như sau: phương thức và số tiền vay: dư nợ giảm dần với số tiền là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: một tỷ đồng); mục đích cho vay: vay linh hoạt (phát triển kinh tế gia đình); thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất: lãi suất 03 tháng đầu 9,5%/năm. Kể từ tháng thứ 4, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được Ngân hàng niêm yết tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,0%/năm, định kỳ điều chỉnh 3 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ bằng Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/3/2024; số tiền giải ngân: 470.000.000 đồng; phương thức giải ngân: chuyển tiền vào tài khoản số 220.915.439 của Phạm Thị Như Q tại Ngân hàng A - P1; thời hạn cho vay: 12 tháng từ ngày 08/3/2024 đến ngày 08/3/2025 và Giấy nhận nợ số 02 ngày 08/3/2024; số tiền giải ngân 530.000.000 đồng; phương thức giải ngân: chuyển tiền vào tài khoản số 989.898.6666 của Lê Công Đức M1 tại Ngân hàng V – P2. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự và được xem xét làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[2.3] Đối với số tiền nợ gốc và nợ lãi: Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ thanh toán số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 13/6/2025, là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng. Ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ thống nhất số tiền còn nợ theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP S. Do đó, căn cứ Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.4] Về thời hạn thanh toán: bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn M yêu cầu được trả trong thời hạn 06 tháng. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP S không đồng ý với thời hạn thanh toán trên của ông M, bà Đ và yêu cầu ông M, bà Đ thanh toán 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông M, bà Đ không được Ngân hàng đồng ý và pháp luật cũng không quy định về việc gia hạn thời hạn trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông M, bà Đ.

[2.5] Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận.

[2.6] Xử lý hợp đồng thế chấp: tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ bao gồm: thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL777535, số vào sổ cấp GCN CS 04759 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 25/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, loại đất LN; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành Đ 327733, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02608 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 14/6/2004, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 03/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ.

[2.7] Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn M đồng ý trong trường hợp không khả năng thanh toán thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ.

[2.8] Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày: bà là chị ruột của bà Nguyễn Thị Đ. Trước đây bà đứng tên chủ sử dụng 02 quyền sử dụng đất thửa đất số 435 và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau này bà thực hiện thủ tục tặng cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Đ. Hiện nay bà đang sinh sống tại căn nhà cất trên 02 thửa đất và chăm sóc cây cối trên đất. Tuy nhiên, bà xác định 02 thửa đất trên, căn nhà, cây cối cùng toàn bộ tài sản khác có trên đất thuộc quyền sở hữu của ông M và bà Đ. Đối với việc ông M, bà Đ thế chấp 02 thửa đất và tài sản có trên 02 thửa đất để vay vốn ngân hàng thì bà không có ý kiến gì. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này.

[2.9] Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 307, Điều 319, Điều 323 của Bộ luật Dân sự xác định trường hợp ông M, bà Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024 thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng thì ông M, bà Đ còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

[2.10] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 1.000.000 đồng, ông M và bà Đ tự nguyện liên đới chịu. Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước toàn bộ, nên buộc ông M, bà Đ liên đới trả lại Ngân hàng TMCP S số tiền 1.000.000 đồng.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí: ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 21.165.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018414 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 180, 207, 228, 266, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 292, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự; Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ.
    1. Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến hết ngày 13/6/2025 là 1.080.325.902 đồng (bằng chữ: một tỷ, không trăm tám mươi triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm linh hai đồng), trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là 36.185.714 đồng; lãi quá hạn là 42.697.398 đồng; phạt chậm trả lãi là 1.442.790 đồng.
    2. Kể từ ngày 14/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 07/3/2024 cho đến khi thi hành án xong toàn bộ số tiền này.
    3. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp: thửa đất số 435, tờ bản đồ số 4, loại đất ở tại nông thôn, địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL777535, số vào sổ cấp GCN CS 04759 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 25/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ và thửa đất số 1396, tờ bản đồ số 4, loại đất LN; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành Đ 327733, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02608 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 14/6/2004, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 03/7/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
    4. Các tài sản trên thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 22/2024/TC-PGDXM ngày 07/3/2024 được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 683, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An ngày 07/3/2024.

      Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng TMCP S thì ông M, bà Đ còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

    5. Về chi phí tố tụng: buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm liên đới hoàn trả tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 1.000.000 đồng (bằng chữ: một triệu đồng) cho Ngân hàng TMCP S.
    6. Kể từ ngày người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí: bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn M được miễn án phí. H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 21.165.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018414 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An.
  3. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 62/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger