TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/DS-ST Ngày: 11/6/2025 (V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước
- Bà Võ Tuyết Kha
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Trí, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 300/2024/TLST- DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 137/2025/QÐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: T, số A đường T, phường L, quận H, Tp ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nhật T1; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Nhật T1: Ông Trịnh Việt B - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2 – Phòng G.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Nhật T1: Ông Nguyễn Trung H - Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng - Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2 – Phòng G.
Cùng địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Đồng bị đơn:
- Ông Phạm Văn M, sinh năm 1968.
- Bà Bùi Thị B1, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Châu Văn S, sinh ngày 19/02/1965.
- Bà Lê Thị T2, sinh ngày 01/01/1965.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
(Đại diện Ngân hàng có đơn xin vắng mặt, các đương sự khác vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2024 và các biên bản lấy lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Trước đây vào ngày 21/6/2018, vợ chồng ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 có ký hợp đồng tín dụng số: 96/2018/11188357/HĐTD với Ngân hàng để vay số tiền là 250.000.000 đồng. Mục đích vay là để mua sắm vật dụng trong gia đình, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày vay vốn 25/6/2018, với lãi suất là 11.5%/năm. Sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh theo định kỳ vào ngày 01/01 và vào ngày 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông M và bà B1 đã ký kết thế chấp với Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số: 96/2018/11188357/HĐTC ngày 21/6/2018 là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông M và bà B1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 do UBND huyện P cấp ngày 26/7/2017, phần đất có diện tích 9.363,0m², thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Việc thế chấp tài sản trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Do ông M và bà B1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đến nay Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay trên qua nợ quá hạn. Tính đến ngày hôm nay (ngày 11/6/2025) ông M và bà B1 còn thiếu nợ Ngân hàng tổng số tiền là 386.782.212 đồng. Trong đó số tiền nợ gốc là 199.940.925 đồng và số tiền lãi là 186.841.287 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M và bà B1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 386.782.212 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp ông M và bà B1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu bán phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Đối với đồng bị đơn ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông M và bà B1 nhưng ông M và bà B1 không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông bà.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 đã được Tòa án cấp, tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông S, bà T2 không hợp tác với Tòa án và cũng không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của mình trong vụ án. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với các đương sự trên theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối với đồng bị đơn ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1. Buộc ông M và bà B1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 386.782.212 đồng. Trong đó số tiền gốc là 199.940.925 đồng và số tiền lãi là 186.841.287 đồng (tạm tính đến ngày 11/6/2025) và lãi phát sinh từ ngày 12/6/2025 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Về việc xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 96/2018/11188357/HĐTC ngày 21/6/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Đối với phần đất là tài sản thế chấp theo biên bản không xem xét thẩm định tại chỗ được tài sản thế chấp vào ngày 27/02/2025 và biên bản xác minh ngày 26/5/2025 của Tòa án xác định hiện tại phần đất này do ông Châu Văn S đang quản lý sử dụng. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cũng như triệu tập ông S và bà T2 đến Tòa án để làm việc nhưng ông S và bà T2 không hợp tác nên yêu cầu tách ra thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu. Buộc ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 có nghĩa vụ phải giao lại phần đất thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08 có diện tích 9.363,0m², phần đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 26/7/2017.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và chi phí thẩm định tại chỗ: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với đồng bị đơn ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1. Ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 cùng có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
[1.1] Đối với yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Ngân hàng.
[1.2] Đối với đồng bị đơn ông Phạm Văn M, bà Bùi Thị B1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng ông M, bà B1, ông S và bà T2 vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc buộc ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: 96/2018/11188357/HĐTD ngày 21/6/2018 với tổng số tiền là 386.782.212 đồng (tạm tính đến ngày 11/6/2025). Trong đó số tiền gốc là 199.940.925 đồng, số tiền lãi là 186.841.287 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp ông M và bà B1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
[3] Hội đồng xét xử nhận thấy rằng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi vay vốn cho đến nay ông M và bà B1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết. Đến thời điểm hiện tại Ngân hàng yêu cầu ông M và bà B1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 386.782.212 đồng (tạm tính đến ngày 11/6/2025). Trong đó số tiền gốc là 199.940.925 đồng, số tiền lãi là 186.841.287 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây cho đến khi thanh toán dứt nợ. Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông M và bà B1. Nhưng ông M và bà B1 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông, bà. Từ đó, cho thấy ông M và bà B1 đã thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng nên đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông M và bà B1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền là 386.782.212 đồng (tạm tính đến ngày 11/6/2025) là hoàn toàn có căn cứ nên được Hội đồng xét xử để chấp nhận.
[4] Xét hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để bảo đảm cho khoản vay trên ngày 21/6/2018, ông M và bà B1 đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 96/2018/11188357/HĐTC với Ngân hàng, việc Ngân hàng với ông M và bà B1 ký kết hợp đồng thế chấp được xác lập trên cơ sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội và đã được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Hợp đồng thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 phần đất có diện tích 9.363,0m², thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 26/7/2017.
[5] Do đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng nhưng ông M và bà B1 không thực hiện đúng theo thỏa thuận với Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015 nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp theo quy định tại các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự. Như vậy, trong trường hợp ông M và bà B1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 96/2018/11188357/HĐTC ngày 21/6/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với các Điều 91, 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017.
[7] Theo biên bản không xem xét thẩm định tại chỗ được tài sản thế chấp vào ngày 27/02/2025 và biên bản xác minh ngày 26/5/2025 của Tòa án thể hiện, phần đất là tài sản thế chấp của ông M và bà B1 đối với Ngân hàng H2 do ông Châu Văn S là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng trên phần đất này. Tòa án đã đưa vợ chồng ông S và bà T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đã tống đạt văn bản tố tụng cũng như triệu tập ông S và bà T2 đến Tòa án để làm việc nhưng ông S và bà T2 không hợp tác nên Tòa án không biết được vì sao ông S và bà T2 đang quản lý, canh tác trên phần đất này mà chỉ nghe ông M cũng như ông Đặng Văn C - Trưởng ấp B, xã V xác định: Sau khi thế chấp phần đất trên để vay tiền của Ngân hàng thì ông M, bà B1 có thực hiện việc giao dịch cầm cố phần diện tích đất này cho ông S và bà T2 nên hiện nay ông S và bà T2 đang trực tiếp quản lý, canh tác trên phần đất này như hiện nay, sự việc này trước đây được ông C ký xác nhận vào tờ giấy cố đất giữa hai bên với nhau. Lời trình bày này của đại diện chính quyền địa phương ông Đặng Văn C - Trưởng ấp B là phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Do đó, việc ông S và bà T2 không hợp tác trong quá trình tố tụng làm ảnh hưởng đến chính quyền lợi của đương sự nên Hội đồng xét xử tách ra thành vụ án khác khi ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 có yêu cầu đối với ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 đối với giao dịch cầm cố đất trên giữa các bên với nhau. Buộc ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 có nghĩa vụ phải giao lại phần đất thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08 có diện tích 9.363,0m², phần đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 26/7/2017.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí. H1 lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 8.600.000 đồng theo biên lai thu số 0007123 ngày 31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Buộc ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 phải nộp số tiền 19.339.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm ba mươi chín nghìn đồng).
[10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 1.050.000 đồng, Ngân hàng không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 1.050.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên buộc ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 phải nộp số tiền 1.050.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.
[11] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319, 401, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 386.782.212 đồng (Ba trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn hai trăm mười hai đồng). Trong đó, số tiền gốc là 199.940.925 đồng, tiền lãi là 186.841.287 đồng (Tạm tính đến ngày 11/6/2025) và ông M, bà B1 còn phải tiếp tục chịu khoản nợ lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 96/2018/11188357/HĐTD ngày 21/6/2018 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Buộc ông Châu Văn S và bà Lê Thị T2 trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật phải có nghĩa vụ giao lại phần đất thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08 có diện tích 9.363,0m² phần đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 26/7/2017.
- Trong trường hợp ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 không thanh toán trả số tiền trên thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền bán phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 96/2018/11188357/HĐTC ngày 21/6/2018 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Cụ thể là theo diện tích đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CI 044066 thuộc thửa số 248 tờ bản đồ số 08 có diện tích 9.363,0m² phần đất tọa lạc tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 26/7/2017.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 phải nộp số tiền 19.339.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm ba mươi chín nghìn đồng). Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. H1 lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 8.600.000 đồng theo biên lai thu số 0007123 ngày 31/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Phạm Văn M và bà Bùi Thị B1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 1.050.000 đồng, Ngân hàng không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 1.050.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên buộc ông M và bà B1 phải nộp số tiền 1.050.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Văn An |
Bản án số 62/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 62/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với ông Mến
