|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2025/DS-PT Ngày: 27/02/2025 “V/v t/c ranh giới BĐS liền kề ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang, ông Nguyễn Quyến .
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 579/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 196/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- - Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1966 (có mặt)
- - Bà Phạm Thị T, sinh năm 1966 (có mặt)
- - Bà Trần Thị Phương L, sinh năm 1993 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 2002 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1965
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền:
- - Bà Trần Thị M, sinh năm: 1985 (có mặt)
Địa chỉ: I đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Nguyễn Thị Diễm T2, sinh năm: 1987 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
(văn bản ủy quyền ngày 10/02/2025).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc C.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Các nguyên đơn ông Trần Văn Đ, bà Phạm Thị T, bà Trần Thị Phương L, bà Trần Thị Cẩm T1 trình bày và yêu cầu: Gia đình ông được Ủy ban nhân dân quận Ô cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 596489, số vào sổ cấp GCN: 00154 ngày 29/4/2003 cho hộ ông Trần Văn Đ tại thửa 730, tờ bản đồ số 04, diện tích 636m2 (300m2 đất T + 336m2 đất LNK), tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, cán bộ đo đạc có tiến hành đo đạc nhưng không có các hộ sử dụng đất lân cận ký giáp ranh.
Giáp ranh là đất của ông Nguyễn Ngọc C tại thửa 731, theo trích lục hồ sơ địa chính số 35/TL.CNVPĐKĐĐ ngày 26/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì thửa 731 có diện tích 1700m² (300m2 ONT + 1400m2 CLN). Ông C mua phần đất này của ông C2, lúc mua là chỉ có mua cái bờ, còn phần con mương là của ông. Hiện tại con mương này là con mương lạng. Lúc ông C mua đất hai bên không có gặp nhau để xác định ranh đất nhưng con mương là thuộc về gia đình ông từ trước đến nay. Năm 2000, ông C đã lấn qua đất của ông diện tích 36m² (ngang 1,2m, dài 30m) tính từ lộ giao thông nông thôn trở lên và mé sông. Năm 2008 Ban N1 và hai bên thống nhất cấm ranh mốc, sau đó ông C cất nhà góc sau ngay trụ ranh, phía trước đã làm hàng rào kiên cố. Nhà nước thu hồi một phần đất của ông thì có đo đạc phần diện tích bị thu hồi, không đo đạc tổng diện tích thửa đất. Đến năm 2020 ông C xây dựng thêm lấn qua phần đất của ông và ông có báo Ban nhân dân ấp Đ2 và Ủy ban nhân dân xã Đ xuống đề nghị ông C đình thi công nhưng ông C vẫn xây dựng. Đến năm 2023 ông C tiếp tục làm thêm dưới mé sông qua phần đất của ông chiều ngang khoản 1m.
Quá trình sử dụng đất, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 1498/QĐ-UBND ngày 07/6/2010 thu hồi 01 phần diện tích 97,6m2 (ONT) thửa 730, diện tích còn lại của thửa 730 là 202,4m2 (ONT) + 336m2 (CLN).
Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Văn C1 trả lại phần đất diện tích 20m², chiều ngang giáp lộ 1,98m, chiều ngang đầu trong 0,56m, chiều dài bên phía ông C1 là 31,06m, chiều dài bên phía ông là 30,75m, tại vị trí A của Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc C có đơn phản tố trình bày: Ông được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.700m² thuộc thửa 731, tờ bản đồ số 04, loại đất ONT + CLN, tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 439716, số vào sổ cấp GCN: H00244 do Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ cấp ngày 31/10/2005 cho ông đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 07/6/2010, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 1497/QĐ-UBND thu hồi một phần diện tích 76,7m2, diện tích còn lại của thửa 731 là 300m2 ONT + 1323m2 CLN.
Nguồn gốc phần đất này là do trước năm 1975, cha ông là ông Nguyễn Văn H có mua đất của ông Nguyễn Văn C2 diện tích 1700m², sử dụng ổn định để cất nhà. Phần đất mé sông có trồng bụi gừa, cây dừa để giữ mé sông. Phần đất liền ở phía trên kế bên có 01 cái mương từ đầu lộ chạy dài ra tới kênh bờ đai, đây là mương ranh sử dụng nước sinh hoạt chung của hai bên. Ông xác định cha ông khi mua không có mua con mương vì đây là mương ranh. Cặp mương ranh là mé bờ ông có trồng cây cà na, đủng đỉnh, bụi trúc, bình bát, ... nhưng do nhiều năm nên phần đất mé bờ của ông bị lở xuống mương nhưng hàng cây đủng đỉnh, gốc cà na, bình bát, ... vẫn còn. Ông và ông Đ không có gặp nhau để xác định ranh đất hai bên nhưng con mương là sử dụng chung, mỗi người được quyền sử dụng ½ con mương. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ đo đạc có tiến hành đo đạc nhưng không ký giáp ranh tứ cận. Đến năm 2010, Nhà nước thu hồi một phần đất của ông thì có đo đạc phần diện tích bị thu hồi, không đo đạc tổng diện tích thửa đất.
Năm 2020, ông làm hàng rào nằm trong hàng rào cây bên phần đất của ông thì hộ ông Trần Văn Đ không chịu và tranh chấp nói ông phải trả 36m2 đất. Ngày 19/12/2023, Ban N1 và Ủy ban nhân dân xã Đ đã mời ông và ông Trần Văn Đ đến giải quyết. Tại Ủy ban nhân dân xã Đ, ông Trương Văn Đ1 – Trưởng ấp Đ nói: “Năm 1991 có dẫn đoàn đo đạc đi đo trên phần đất liền, còn phần mương ranh không có đo”. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ cũng xác định “mương ranh là của chung của hai hộ, không phải của riêng ai”. Theo hội đồng hòa giải thì mương ranh chia hai. Trước đây ông Đ có tranh chấp ranh đất với ông Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn N phần đất giáp ranh phía sau liền kề với ông Đ và giáp ranh một bên của ông. Khi hòa giải tại địa phương, ông Đ đã đồng ý cho phần đất này cho ông T3, ông N.
Ông xác định ông làm hàng rào bên mé bờ của ông chứ không lấn ranh qua ông Đ. Vì vậy, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không đồng ý. Ông yêu cầu công nhận cho gia đình ông được quyền sử dụng ½ con mương ngang 1m x dài 30m (đã lấp) tại vị trí A của Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 196/2024/DSST ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu phản tố của bị đơn.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc C tháo dỡ, di dời cây trồng, vật kiến trúc giao trả cho ông Trần Văn Đ, bà Phạm Thị T, bà Trần Thị Phương L, bà Trần Thị Cẩm T1 phần đất diện tích 20m², thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử nguyên đơn ông Huỳnh Văn C3 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị M đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày: Phần đất tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Bị đơn đã sử dụng ổn định và lâu dài. Diện tích đất của bị đơn còn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận phản tố của bị đơn. Công nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp cho bị đơn.
Ông Trần Văn Đ trình bày: Ông đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên. Phần đất của ông sử dụng hiện nay thiếu rất nhiều so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Lúc nhà nước mở rộng đường thì căn cứ vào đo vẽ để thể hiện kích thướt phần đất được bồi thường. Căn cứ theo biên bản này thì phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ theo Giấy chứng quyền sử dụng đất đã cấp cho hai bên và căn cứ Bản trích đo địa chính thể hiện: Ranh đất của ông C là một đường thẳng kéo dài từ trước ra sau. Phần đất tranh chấp tại vị trí A nằm lấn qua đất của ông C nên bị dôi qua. Quá trình sử dụng bị đơn sử dụng lâu dài. Hiện tại diện tích đất được cấp so với đo đạc thực tế thì bị đơn vẫn còn thiếu. Bản án sơ thẩm tuyên cho nguyên đơn sử dụng phần đất tại vị trí A là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận cho bị đơn được hưởng phần đất tại vị trí A như yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề” Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp diện tích đất tại vị trí A, diện tích 20m², chiều ngang giáp tuyến mặt lộ là 0,8m. Hộ ông Trần Văn Đ sử dụng thửa 730, diện tích đo đạc thực tế 309,8m², thiếu 228,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; ông Nguyễn Ngọc C sử dụng thửa 731, diện tích đo đạc thực tế 1463,7m², thiếu 159,9m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
Xét phần đất hộ ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận diện tích 636m², trong đó 300m² đất T, 336m² đất LNK. Ngày 07/6/2010, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 1498/QĐ-UBND thu hồi diện tích 97,6m² thửa 730, chiều ngang giáp lộ là 13,4m, chiều ngang phía trong là 13,8m (bút lục 129). Như vậy phần đất tại thửa 730 của hộ ông Trần Văn Đ còn lại sau khi thu hồi đất có chiều ngang giáp tuyến đường là 13,8m.
Đối chiếu với Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, chiều ngang thửa 730 giáp tuyến đường xã Đ - xã T là 12,03m, tức thiếu 1,77m.
Xét phần đất ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 731, diện tích 1700m², đất ONT + CLN. Ngày 07/6/2010, Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi diện tích 76,7m² thửa 731, chiều ngang giáp lộ là 12,3m, chiều ngang phía trong là 11,7m.(bút lục 122). Như vậy phần đất tại thửa 730 của hộ ông Trần Văn Đ còn lại sau khi thu hồi đất có chiều ngang giáp lộ tuyến đường là 11,7m.
Đối chiếu với Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, chiều ngang thửa 731 giáp tuyến đường là 12,05m, tức dư 0,35m.
[3] Xét phản tố của bị đơn nhận thấy: Không có căn cứ xác định nguyên đơn lấn chiếm phần đất tranh chấp tại vị trí A, diện tích 20m² như trình bày và yêu cầu của bị đơn. Bị đơn không chứng minh phần chiều ngang giáp lộ phần đất của bị đơn là bao nhiêu mét ngang. Do đó, căn cứ vào Hồ sơ trích đo ngày 28/10/2009 về việc bồi thường đất cho bị đơn thì phần chiều ngang đất của ông C là 12.3m. Nếu cộng luôn phần tranh chấp 0.8m thì đất của ông bị dôi dư. Do đó, C4 ổn định phần đất tranh chấp tại vị trí A, diện tích 20m² cho nguyên đơn. Theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024, tại phần đất tranh chấp có cây trồng, vật kiến trúc của ông Nguyễn Ngọc C nên cần buộc ông C tháo dỡ, di dời cây trồng, vật kiến trúc tại vị trí A, để giao phần đất tranh chấp cho nguyên đơn.
Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng quy định do đó, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở xem xét.
[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Đáng lý ra bị đơn phải chịu nhưng do bị đơn là người cao tuổi nên được miễn.
[7] Xét đề nghị của V đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 91, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Điều 174; Điều 175; Điều 176; Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc C. Giữ y bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu phản tố của bị đơn.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc C tháo dỡ, di dời cây trồng, vật kiến trúc giao trả cho ông Trần Văn Đ, bà Phạm Thị T, bà Trần Thị Phương L, bà Trần Thị Cẩm T1 phần đất diện tích 20m², thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 04, tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 227/VPĐKĐĐ ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu 5.000.000 đồng tiền xem xét, thẩm định. Ông Trần Văn Đ đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng nên ông Nguyễn Ngọc C phải trả lại cho ông Trần Văn Đ 5.000.000 đồng tại giai đoạn thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông C đã nộp theo biên lai thu số 0007557 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành án phí nên ông C không phải nộp thêm.
Ông Trần Văn Đ, bà Phạm Thị T, bà Trần Thị Phương L, bà Trần Thị Cẩm T1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007501 ngày 02/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc C được miễn do là người cao tuổi. Ông C được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004455 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Quyến |
Nguyễn Văn Hải |
|
Nguyễn Thị Thùy Trang |
Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Số bản án: 62/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ranh giới BĐS liền kề
