|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2025/DS-PT Ngày: 11 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh và bà Hà Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An bị bị đơn tổng Công ty cổ phần B kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 81/2025/QĐXX-PT, ngày 09-5-2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Quốc Q: Ông Phan Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
* Bị đơn: Tổng Công ty cổ phần B1 (sau đây viết tắt là PJICO); địa chỉ: Tầng B tòa nhà M T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hương G - chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Phi L, sinh năm 1997 và bà Trần Hồng N, sinh năm 1997- chức vụ: Chuyên viên pháp chế Tổng Công ty cổ phần B1. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị S: Ông Phan Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Tổng Công ty B2; địa chỉ: số C H, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng T - chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh H1 - chức vụ: Trưởng phòng Giám định bồi thường - Công ty B. Vắng mặt.
- Tổng Công ty cổ phần B3; Địa chỉ: Số B T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Anh T1 - Chức vụ: Tổng giám đốc, vắng mặt.
- Tổng Công ty B4; địa chỉ: Tầng B, tòa nhà P, Lô V Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh Đ - chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Văn H là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc Q trình bày:
Ngày 22/02/2019, tàu cá NA-90126-TS do ông Nguyễn Quốc Q làm chủ tàu đã ký hợp đồng bảo hiểm với công ty B, theo giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 với giá trị bảo hiểm như sau: thân tàu: 2.500.000.000 đồng (trong đó: vỏ: 1.000.000.000 đồng; máy móc: 1.000.000.000 đồng; trang thiết bị hàng hóa: 500.000.000 đồng), tai nạn thuyền viên là 70.000.000 đồng/người/vụ. Hiệu lực bảo hiểm từ 7 giờ 00 phút ngày 22/02/2019 đến 7 giờ 00 phút ngày 22/02/2020.
Vào lúc 6 giờ ngày 14/12/2019, tàu rời cảng L. Đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 14/12/2019, khi tàu đang ở tọa độ 19°28′ N; 106° 34' E thì xảy ra sự cố cháy chìm tàu. Theo kết luận điều tra của Phòng C và CNCH - Công an tỉnh N nguyên nhân vụ cháy tàu cá là do “Do tụ điện (thiết bị tích trữ năng lượng và cung cấp năng lượng) dùng trong việc khởi động động cơ bị nổ, bắn các tia lửa điện bắt cháy khoang máy, gây nên vụ cháy trên. Ngoài ra, nguyên nhân cháy không có tác động của con người”. Theo Báo cáo giám định thì tổn thất đối với tàu NA-90126-TS sau sự cố ngày 14/12/2019 là tổn thất toàn bộ. Vụ việc xảy ra không có thiệt hại về người.
Căn cứ vào Báo cáo giám định số 19/12/2220/TH/HA ngày 26/01/2021 của Công ty TNHH G1, Công ty B có Công văn số 56/2021/PJICO.NA-CV từ chối bồi thường cho sự cố cháy tàu của ông Q với lý do tàu đang khai thác tại vùng Lộng là nằm ngoài vùng hoạt động khai thác cho phép theo Giấy phép khai thác thủy sản, vi phạm Điều 43, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP về việc Quản lý hoạt động của tàu cá trên các vùng biển Việt Nam.
Ông Nguyễn Quốc Q không đồng ý với việc từ chối bồi thường cho sự cố cháy tàu của Công ty B (Công ty con của Tổng công ty cổ phần B1) bởi các nguyên nhân:
Thứ nhất, Ông Q mua bảo hiểm của Công ty B thông qua nhân viên Văn phòng của PJICO tại thị xã H. Khi mua bảo hiểm Ông Q chỉ được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 ngày 22/02/2019. Trong giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản mà ông Q nhận được ghi phạm vi hoạt động là vùng biển và các vùng nước liên quan đến biển Việt Nam. Đối với giấy sửa đổi, bổ sung thay đổi quy tắc bảo hiểm từ “Quy tắc bảo hiểm: được chấp thuận đăng ký theo công văn số 6081/BTC-QLBH ngày 25/05/2018 của Bộ T3 NAY SỬA LẠI LÀ: Quy tắc bảo hiểm: được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ T3” do công ty B lập ngày 22/02/2019, Ông Q không hề được biết hay được cung cấp bổ sung cho người mua bảo hiểm. Quá trình mua bảo hiểm cũng không có hợp đồng cụ thể, không được nhân viên bảo hiểm giải thích, hướng dẫn gì về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm, không được cung cấp thông tin, không được biết điều khoản loại trừ bảo hiểm. Trong giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản ông Q được nhận cũng không có nội dung về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và khi ông Q mua bảo hiểm cũng không được giải thích cụ thể về điều khoản loại trừ bảo hiểm. Việc này không chỉ riêng Ông Q mà những người mua bảo hiểm khác trên địa bàn xã Q đều không được người bán bảo hiểm của Công ty B giải thích rõ và cung cấp đầy đủ khi mua bảo hiểm. Việc không giao quy tắc bảo hiểm B và nhân viên văn phòng của PJICO tại thị xã H đều công nhận việc này.
Căn cứ vào Báo cáo giám định số 19/12/2220/TH/HA ngày 26/01/2021 của Công ty TNHH G1, Công ty B có Công văn số 56/2021/PJICO.NA-CV ngày 16/9/2021 từ chối bồi thường cho sự cố cháy tàu của ông Q với lý do tàu của ông Q đang khai thác tại vùng Lộng là nằm ngoài vùng hoạt động khai thác cho phép theo Giấy phép khai thác thủy sản, vi phạm Điều 43, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP về việc Quản lý hoạt động của tàu cá trên các vùng biển Việt Nam. Căn cứ điểm b, mục 1, điều 15 - Loại trừ bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ (theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015): “tàu hoạt động ngoài phạm vi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam” thì sự cố cháy chìm tàu NA-90126-TS xảy ra ngày 14/12/2019 tại tọa độ 19°28′ N; 106°34′ E không thuộc trách nhiệm bồi thường của PJICO.
Mặc dù vào thời điểm xảy ra sự cố cháy tàu, tàu của ông Q đang ở tọa độ 19°28′ N; 106°34' E là thuộc vùng Lộng theo báo cáo giám định. Tuy nhiên, do công ty B không thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với ông Q (không giải thích và giao các quy tắc bảo hiểm) dẫn đến ông Q không nắm bắt được quy định về “loại trừ bảo hiểm” theo quy định tại điểm b, mục 1, điều 15 - Loại trừ bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ. Do đó, không có cơ sở để áp dụng quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với ông Q nên Tổng công ty cổ phần B1 phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Q.
Thứ hai, theo giấy phép khai thác tàu của ông Q được khai thác ở vùng khơi. Theo xác nhận của UBND xã Q thì ông Nguyễn Quốc Q là ngư dân đánh bắt giỏi và chưa từng vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ trước đến nay ông Q cũng như các ngư dân tại địa phương chưa được chính quyền địa phương hay Đ1, giải thích cụ thể về các quy định của Luật Thủy sản cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản, quy định về vùng đánh bắt. Ông Q cũng chưa từng bị xử phạt hành chính khi đánh bắt thủy sản không đúng vùng khai thác. Mặt khác, vị trí tàu của ông Q thời điểm xảy ra sự cố đang ở tọa độ 19°28' N; 106°34′ E, không phải ở điểm 3' nên rất khó xác định thuộc vùng Khơi hay vùng Lộng. Kiểm tra lại thông tin vị trí tọa độ thì tại vị trí tàu cháy theo lời khai của ông Q trong hồ sơ giám định thì căn cứ vào vị trí của máy định vị này để khai báo, khi khai thác thì ở ngoài phía đông của vị trí chìm tàu thuộc khu vực vùng khơi biển Việt Nam, khi cháu tàu trôi theo hướng gió và xác định tại vị trí tọa độ 19°28′ N; 106°34′ E. Do ở trên biển không phải trên đất liền, các điểm mô trả theo tọa độ rất khó xác định, độ sai số của máy định vị khoảng 500 m - 1000 m, vì vậy chưa có cơ sở xác định cụ thể chính xác vị trí tàu cháu. Vấn đề về lắp thiết bị giám sát hành trình: Căn cứ điểm e khoản 3, điều 44 Nghị định 26/2019/NĐ-CP ngày 08/03/2019 quy định về “e.Lộ trình lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá: Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên phải lắp trước ngày 01 tháng 7 năm 2019; đối với tàu làm nghề lưới kéo, câu cá ngừ đại dương có chiều dài lớn nhất từ 15 mét đến dưới 24 mét phải lắp trước ngày 01 tháng 01 năm 2020; tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét đến dưới 24 mét phải lắp trước ngày 01 tháng 4 năm 2020;” Như vậy, thời điểm tàu cá của ông Q chìm là ngày 14/12/2019, tàu ông Q có chiều dài 23,6 m (dưới 24 m), làm nghề chụp 4 sào thì chưa bắt buộc phải lắp thiết bị giám sát hành trình.
Sau khi sự cố cháy tàu xẩy ra, Ông Q đã trình báo UBND xã Q, đồn Biên phòng Q1 và các cơ quan ban ngành về sự cố chìm tàu, đến nay cũng không hề ghi nhận việc lập biên bản vi phạm hành chính hoặc xử phạt vi phạm hành chính về lỗi khai thác không đúng vùng đánh bắt thuỷ sản. Như vậy, chưa thể khẳng định và đủ cơ sở khẳng định ông Q vi phạm vùng khai thác và vi phạm Luật thủy sản. Việc từ chối thanh toán bồi thường bảo hiểm của công ty B là chưa chính xác, ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người mua bảo hiểm (khách hàng).
Thứ ba, về căn cứ yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm: Do trong giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản các bên không có thoả thuận về thời hạn phải trả tiền bảo hiểm nên Tổng công ty B5 phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho ông Nguyễn Quốc Q trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền theo quy định tại Điều 29 của Luật kinh doanh bảo hiểm. Theo hồ sơ giám định thì ngày ông Q nộp đơn yêu cầu bảo hiểm là ngày 16/12/2019 (Căn cứ xác nhận tại mục 6.1 Mục 6 Mức độ thiệt hại và khiếu nại của chủ tàu - Trang 7/9 báo cáo giám định số 19/12/2220/TH/HA ngày 26/01/2021 của Công ty TNHH G1) và ngày 26/01/2021 khi Công ty TNHH G1 có kết quả báo cáo giám định gửi cho Tổng công ty B5 và các bên. Như vậy, xác định ngày 26/01/2021 là ngày chậm nhất Tổng công ty B5 phải thanh toán tiền bảo hiểm cho ông Q là có căn cứ pháp luật; Buộc Tổng công ty B5 phải chịu tiền lãi cho ông Q theo quy định tại điều 357 của Bộ Luật dân sự năm 2015 là ngày 10/02/2021.
Vì các lý do trên, Ông Q khởi kiện yêu cầu buộc Tổng công ty cổ phần B1 chi trả tiền bảo hiểm tàu cá NA-90126-TS do ông Nguyễn Quốc Q làm chủ với số tiền bảo hiểm là 2.500.000.000đ và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/02/2021 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm 25/9/2024 theo giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 và giấy sửa đổi bổ sung số E-19/NAN/NVU/2600/0098-01 của 03 năm 7 tháng 15 ngày theo mức 10%/năm là 906.250.000đ. Tổng cộng số tiền ông Q yêu cầu bồi thường là 3.406.250.000₫ (Ba tỷ bốn trăm linh sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, Đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất trình bày:
Ông Q tham gia bảo hiểm tại PJICO theo giấy chứng nhận bảo hiểm số P-19/NAN/NVU/2600/0098. Thời hạn bảo hiểm từ ngày 22/2/2019-22/2/2020. Số tiền bảo hiểm là 2.500.000.000 đồng. Quy tắc bảo hiểm áp dụng là Quy tắc được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015. Đối tượng bảo hiểm là tàu cá NA-90126-TS.
Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, PJICO đã cung cấp đầy đủ quy tắc bảo hiểm, biểu phí cũng như tư vấn giải thích đầy đủ cho ông Q về sản phẩm bảo hiểm liên quan.
Ngày 14/12/2019, tàu NA-90126-TS xảy ra tổn thất cháy chìm tại toạ độ (19°28′N, 106°34′E) được cơ quan chức năng xác định thuộc vùng Lộng.
Tuy nhiên, căn cứ giấy phép khai thác thuỷ sản và giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật của tàu NA-90126-TS thì tàu NA-90126-TS chỉ được phép hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng Khơi.
Đối chiếu với quy định tại mục 6 Điều 7, điểm đ khoản 1 Điều 60 Luật Thuỷ sản năm 2017, điểm a khoản 1 Điều 43 Nghị định 26/2019/NĐ-CP thì hành vi khai thác hải sản sai vùng là hành vi bất hợp pháp và bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật. Đây là hành vi kinh doanh trái phép khai thác hải sản.
PJICO đã căn cứ vào các quy định nêu trên của pháp luật và căn cứ vào điểm b mục 1 Điều 15 Quy tắc bảo hiểm, xác định tổn thất tàu NA-90126-TS xảy ra ngày 14/12/2019 thuộc điểm loại trừ bảo hiểm.
Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai căn cứ vào những hồ sơ tài liệu trong vụ án để xem xét vụ án một cách khách quan, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của PJICO. Nếu Toà án buộc bồi thường thì PJICO chỉ nhất trí bồi thường cho ông Q 50% số tiền bảo hiểm vì ông Q cũng có lỗi 50%. Còn lãi suất chậm trả chỉ nhất trí trả tính từ ngày 01/10/2021.
Ngoài ra, giữa PJICO và ông Q đã có thoả thuận về lựa chọn Toà án khi có tranh chấp xảy ra là Toà án nơi bị đơn cư trú có trụ sở. PJICO có trụ sở tại B phố T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Cho nên, PJICO kính đề nghị TAND thị xã Hoàng Mai xác định lại thẩm quyền giải quyết vụ án là TAND quận Đống Đa thành phố Hà Nội theo đúng thoả thuận giữa các bên.
Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị S người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn H trình bày: Bà Lê Thị S là vợ của ông Nguyễn Quốc Q. Bà nhất trí với lời trình bày của ông Nguyễn Quốc Q. Bà S nhất trí ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai giải quyết buộc Tổng công ty cổ phần B1 chi trả tiền bảo hiểm tàu cá NA-90126-TS do ông Nguyễn Quốc Q làm chủ với số tiền bảo hiểm là 2.500.000.000₫ và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/02/2021 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm theo giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 và giấy sửa đổi bổ sung số E-19/NAN/NVU/2600/0098-01 của 03 năm 7 tháng 15 ngày theo mức 10%/năm là 906.250.000đ. Tổng cộng số tiền ông Q yêu cầu bồi thường là 3.406.250.000₫ (Ba tỷ bốn trăm linh sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Đại diện theo uỷ quyền của Tổng Công ty B2 ông Nguyễn Minh H1 trình bày: Tổng Công ty B2 đồng ý với ý kiến trình bày của đại diện theo uỷ quyền Tổng Công ty cổ phần B1. Nếu có căn cứ phải bồi thường thì Tổng Công ty B2 nhất trí bồi thường. Nhưng nhất trí để Tổng Công ty cổ phần B1 sẽ bồi thường cho ông Nguyễn Quốc Q sau này giữa Tổng Công ty B2 và Tổng Công ty cổ phần B1 tự giải quyết với nhau.
Người làm chứng ông Tô Huy T2, trưởng văn phòng Đ2 trình bày: Sau khi tiếp nhận giấy yêu cầu cấp đơn bảo hiểm của chủ tàu là ông Nguyễn Quốc Q văn phòng Đ2 tiếp nhận và đưa về Công ty B để cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản. Sau khi B cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản thì Đ2 thì chủ tàu ông Nguyễn Quốc Q ký vào giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản và nhận giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản. Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 được ông Nguyễn Quốc Q ký nhận tại Văn phòng Đ2. Quy tắc bảo hiểm được tập huấn chung theo Nghị định 67 trước đó có giải thích quy tắc bảo hiểm. Sau khi nhận giấy chứng nhận bảo hiểm thì Văn phòng Đ2 và B chưa bàn giao quy tắc bảo hiểm cho ông Nguyễn Quốc Q và bà Lê Thị S (vợ ông Q) 01 bản. Thông tin điều khoản loại trừ bảo hiểm và được tập huấn trước khi cấp giấy chứng nhận bảo hiểm theo Nghị định 67. Tàu cá của ông Q chỉ được khai thác ở vùng khơi không được khai thác ở vùng lộng đã có trong quy tắc bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm như sau: thân tàu: thân tàu: 2.500.000.000 đồng (trong đó: vỏ: 1.000.000.000 đồng; máy móc: 1.000.000.000 đồng; trang thiết bị hàng hóa: 500.000.000 đồng). Sau khi tàu cá bị cháy thì ông Q có báo với đường dây nóng B. B và Văn phòng Đ2 đã hướng dẫn chủ tàu liên làm các thủ tục liên quan đến chế độ bảo hiểm.
Đồn Biên phòng Q1 trình bày: Tàu cá NA-90126-TS do ông Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1981, HKTT thôn T, xã Q, thị xã H, làm chủ phương tiện, đã làm thủ tục xuất lạch Còn lúc 6 giờ 00 phút ngày 14/12/2019 tại trạm KSBP Lạch Còn - Đồn Biên phòng Q1, trên tàu có 10 người. Thời gian làm thủ tục xuất bến trên tàu có 10 người, thuyền trưởng, máy trưởng có văn bằng, chứng chỉ theo quy định. Khi tàu cá NA-90126-TS xuất lạch Còn ngày 14/12/2019, tàu có trang bị các thiết bị thông tin liên lạc đầy đủ theo quy định; chưa lắp đặt thiết bị giám sát hành trình. Tàu có đủ điều kiện an toàn kỹ thuật theo quy định khi xuất lạch.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của TAND thị xã Hoàng Mai đã quyết định:
Áp dụng các Điều 26, 35, 40, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 385, 398, 401, 429, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 12, 13, 14, 15, 16, 17, 19, 29 của Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Q: buộc Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO) phải bồi thường ông Nguyễn Quốc Q là chủ tàu cá NA-90126-TS với với số tiền bảo hiểm là 2.500.000.000đ và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/02/2021 đến ngày 25/9/2024 của 43 tháng 15 ngày theo mức 10%/năm là 906.250.000 đồng. Tổng cộng là 3.406.250.000₫ (Ba tỷ bốn trăm linh sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Bản án còn quyết định về lãi suất chậm trả, thỏa thuận thi hành án; án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03 tháng 10 năm 2024, Bị đơn Tổng công ty cổ phần B1 (PJICO) có đơn kháng cáo với nội dung: hội đồng xét xử sơ thẩm đã không khách quan trong việc đánh giá chứng cứ và bỏ qua các hành vi vi phạm pháp luật của bên mua bảo hiểm/Người được bảo hiểm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của PJICO trong vụ án; yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Chí H2 đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, trong trường hợp Tòa án vẫn buộc PJOCO phải bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của nguyên đơn thì phải áp dụng mức khấu trừ bảo hiểm là 2% trên nghĩa vụ bồi hoàn toàn bộ tổn thất, đây là điều khoản bắt buộc khi xảy ra sự cố là mức khấu trừ này theo luật kinh doanh bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã chấp hành theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự tuân thủ các quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO). Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về người kháng cáo, nội dung, hình thức đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B1 là đúng quy định tại điều 271, điều 272 và điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tổng công ty B2; tổng công ty cổ phần B3, tổng công ty B4 vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã triệu tập hợp lệ, hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Xét nội dung kháng cáo của PJICO:
- Xét tàu cá NA-90126-TS do ông Nguyễn Quốc Q làm chủ được bảo hiểm bằng hợp đồng bảo hiểm với công ty B, theo giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số P-19/NAN/NVU/2600/0098 ngày 22/02/2019 với giá trị bảo hiểm như sau: thân tàu: 2.500.000.000 đồng (trong đó: vỏ: 1.000.000.000 đồng; máy móc: 1.000.000.000 đồng; trang thiết bị hàng hóa: 500.000.000 đồng), tai nạn thuyền viên là 70.000.000 đồng/người/vụ. Hiệu lực bảo hiểm từ 7 giờ 00 phút ngày 22/02/2019 đến 7 giờ 00 phút ngày 22/02/2020. Bên mua bảo hiểm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm. Ngày 14/12/2019, tàu cá NA-90126-TS gặp sự cố cháy chìm tàu, gây tổn thất toàn bộ, không có thiệt hại về người. Nguyên nhân cháy theo kết luận điều tra của Phòng C và CNCH - Công an tỉnh N là: “Do tụ điện (thiết bị tích trữ năng lượng và cung cấp năng lượng) dùng trong việc khởi động động cơ bị nổ, bắn các tia lửa điện bắt cháy khoang máy, gây nên vụ cháy trên. Ngoài ra, nguyên nhân cháy không có tác động của con người”. Thời điểm xảy ra sự cố con tàu vẫn còn trong thời hạn được bảo hiểm. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định các tình tiết nêu trên là có thật.
- Theo quy định tại Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 thì “Trường hợp có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp B6, chi nhánh doanh nghiệp B6 nước ngoài phải quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm, phải giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận việc bên mua bảo hiểm đã được doanh nghiệp B6, chi nhánh doanh nghiệp B6 nước ngoài giải thích đầy đủ và hiểu rõ nội dung này khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”.
Theo “Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản” số P-19/NAN/NVU/2600/0098 ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Công ty B cấp cho ông Nguyễn Quốc Q thì phạm vi hoạt động của tàu NA-90126-TS được ghi là vùng biển và các vùng nước liên quan đến biển Việt Nam. Bị đơn cho rằng Quy tắc bảo hiểm được áp dụng cho Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hản sản cấp cho ông Q là Quy tắc được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015. Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, PJICO đã cung cấp đầy đủ quy tắc bảo hiểm, biểu phí cũng như tư vấn giải thích đầy đủ cho ông Q về sản phẩm bảo hiểm liên quan. Tuy nhiên ông Q không hề được biết hay được cung cấp bổ sung cho người mua bảo hiểm; sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và bị trừ chối bảo hiểm ông Q làm đơn yêu cầu sao chụp tài liệu của đơn vị giám định độc lập thì mới biết là trong hồ sơ Công ty B bổ sung vào. PJICO cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh ông Q đã được thông báo hay giao nhận hợp lệ Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ (được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ T3).
Xét nội dung “Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản” (là văn bản mà nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có giá trị là hợp đồng bảo hiểm) không có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Quá trình xác lập hợp đồng bảo hiểm tài sản các bên không thực hiện giao kết hợp đồng bảo hiểm bằng văn bản để thỏa thuận cụ thể các vần đề được bảo hiểm và các vấn đề loại trừ bảo hiểm theo quy định. Tuy nhiên, PJICO thu tiền phí bảo hiểm đầy đủ và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm nên hợp đồng bảo hiểm đã phát sinh hiệu lực; thời gian xảy ra sự kiện bảo hiểm còn nằm trong thời gian hiệu lực bảo hiểm. Do đó, có căn cứ để khẳng định khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, bên Công ty B đã không giải thích cho ông Nguyễn Quốc Q các trường hợp loại trừ bảo hiểm là vi phạm quy định tại Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022. Công ty B đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải thích các trường hợp loại trừ bảo hiểm cho người mua bảo hiểm đã dẫn đến việc các bên tranh chấp với nhau về điều khoản loại trừ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 3 Điều 405 Bộ luật dân sự, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm không có hiệu lực. Do vậy, thiệt hại thực tế xảy ra, các bên tham gia giao kết hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung đã được giao kết.
- Giấy phép khai thác thủy sản số 0580/18/KTTS do Chi cục thủy sản - Sở N1 cấp ngày 17/4/2018 cho phép tàu cấN-90126-TS khai thác tại vùng Khơi biển Việt Nam. Báo cáo giám định số 19/12/2220/TH/HA ngày 26/01/2021 của Công ty TNHH G1 xác định tại thời điểm xảy ra sự cố cháy chìm tàu, tàu cá NA-90126-TS đang hoạt động tại tọa độ 19°28′ N; 106°34′ E thuộc phạm vi vùng Lộng. Sự cố xảy ra ở trên biển, vị trí giám định dựa theo lời khai của các thuyền viên trên viên nằm giữa ranh giới vùng L1 và vùng Khơi. Dựa vào chuyển động của con nước trong khoảng thời gian từ khi bắt đầu sự cố chập cháy đến lúc chìm tàu thì không đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn điểm xảy ra sự cố và điểm chìm tàu là cùng tại vùng Lộng. Trong khi đó “Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản” số P-19/NAN/NVU/2600/0098 ngày 22 tháng 02 năm 2019 mà Công ty B cấp cho ông Nguyễn Quốc Q ghi nhận phạm vi hoạt động hợp pháp là vùng biển và các vùng nước liên quan đến biển Việt Nam. Do đó, ý kiến của bị đơn PJICO cho rằng hành vi khai thác hải sản sai vùng của ông Q là bất hợp pháp và bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật, là kinh doanh trái phép khai thác hải sản nên thuộc thuộc điểm loại trừ bảo hiểm là chưa đủ thuyết phục, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Q. Trường hợp ông Nguyễn Quốc Q thực sự có hành vi khai thác hải sản tại vùng không được cấp phép thì lỗi này của nguyên đơn thuộc về vi phạm hành chính chứ không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm như ý kiến của bị đơn.
Từ những lập luận trên, thấy rằng không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn về việc sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Q buộc tổng Công ty cổ phần B (PJICO) phải chi trả cho ông Q - chủ tàu cá NA-90126-TS tổng số tiền bảo hiểm: 2.500.000.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/02/2021 đến ngày 25/9/2024 của 43 tháng 15 ngày theo mức 10%/năm: 906.250.000 đồng, tổng cộng: 3.406.250.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm linh sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu áp dụng mức khấu trừ bảo hiểm 2% trên nghĩa vụ bồi hoàn toàn bộ tổn thất của ông Q theo quy định tại Giấy chứng nhận bảo hiểm. Đây là yêu cầu mới phát sinh chưa được bị đơn yêu cầu giải quyết tại cấp sơ thẩm, và nằm ngoài phạm vi đơn kháng cáo, do đó hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc Q được hội đồng xét xử chấp nhận nên ông Nguyễn Quốc Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Đơn kháng cáo của PJICO không được chấp nhận nên PJICO phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO), giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 40, Điều 147của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 429 của Bộ luật Dân sự; Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 19, Điều 29 của Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 26; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Q.
- Buộc Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO) phải bồi thường ông Nguyễn Quốc Q là chủ tàu cá NA-90126-TS với với số tiền bảo hiểm là 2.500.000.000₫ và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/02/2021 đến ngày 25/9/2024 của 43 tháng 15 ngày theo mức 10%/năm là 906.250.000đ. Tổng cộng là 3.406.250.000 đ (Ba tỷ bốn trăm linh sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Buộc Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO) phải chịu 100.125.000đ (Một trăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Trả lại cho ông Nguyễn Quốc Q số tiền 48.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008471 ngày 06/3/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Tổng Công ty cổ phần B1 (PJICO) phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008597 ngày 09/10/2024. Như vậy, tổng Công ty cổ phần B (PJICO) đã nộp đủ.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số bản án: 62/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Q khởi kiện PJICO tranh chấp bảo hiểm tàu cá
