Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Oanh và ông Nguyễn Chí Công.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị Mỹ C (chết)

Vợ, con: chưa có

Tiền sự: Ngày 24/11/2023 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản".

Nhân thân: Ngày 21/6/2024 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tiền án:

  • - Ngày 03/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Châu thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2020.
  • - Ngày 04/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2022.

Tạm giữ, tạm giam: không có

Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Hữu P (M), sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Kim Loan

Vợ: Nguyễn Ái D, sinh năm 2004

Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023

Tiền sự, tiền án: không

Nhân thân:

  • - Ngày 26/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • - Ngày 18/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 17/7/2024 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Long khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tạm giữ, tạm giam: không có

Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Thành T2, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Hoàng D1 và bà Đoàn Thị Lệ Hà

Vợ, con: chưa có

Tiền sự:

  • - Ngày 12/6/2023 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 12/3/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Nhân thân: Ngày 21/6/2024 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tiền án: không

Tạm giữ, tạm giam: không có

Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Trần Hùng T3, sinh năm 1997 (có mặt)
  2. Nơi cư trú: Số 55A, ấp Long Hội, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

  3. Anh Lê Hữu X, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Số B, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Số 112, ấp Tân Mỹ, xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

  3. Anh Nguyễn Ái D, sinh năm 2004 (có mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp

  5. Chị Nguyễn Thị Anh T5, sinh năm 1999 (có mặt)
  6. Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

  7. Anh Trần Hùng H, sinh năm 1975 (có mặt)
  8. Nơi cư trú: Số E, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

- Người làm chứng:

  1. Chị Lê Mỹ X1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Số 70, ấp Tân Bình, xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

  3. Anh Hồ Thanh T6, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Số 70, ấp Tân Bình, xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

  5. Anh Lâm Trí T7, sinh năm 1997 (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Số 8/1B, Khóm 2, Phường 4, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu P, Nguyễn Thành T2 và Nguyễn Văn T quan hệ bạn bè với nhau. Trong thời gian ngày 10/11/2023 và ngày 27/3/2024, Lê Hữu P, Nguyễn Thành T2 và Nguyễn Văn T cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L cụ thể như sau:

- Lần 1: Vào khoảng 22 giờ ngày 10/11/2023, Nguyễn Văn T rủ Lê Hữu P đi tìm tài sản lấy trộm, P đồng ý. T điều khiển xe mô tô không rõ biển số đem theo 01 cây kiềm cộng lực chở P đến địa bàn huyện L.

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, T phát hiện cửa hàng điện thoại “Hưng Thịnh” do anh Trần Hùng T3 làm chủ, tọa lạc ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp khóa cửa ngoài nên T dừng xe kiểm tra không thấy người trông giữ, T dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa đột nhập vào bên trong lấy tài sản gồm:

  • - 07 điện thoại di động hiệu Lumia;
  • - 01 máy khoan hiệu Hitachi;
  • - 01 đồng hồ đeo tay hiệu Xiaomi;
  • - 01 bóp da nam.

T đem ra đưa cho P đứng bên ngoài cảnh giới thì bị anh T3 phát hiện truy hô, T và P điều khiển xe mô tô bỏ chạy về nhà T.

Tại đây, T giữ 03 điện thoại di động, 01 máy khoan, 01 đồng hồ và 01 bóp da, đưa cho P 04 điện thoại.

Đến khoảng 09 giờ ngày 11/11/2023, P để lại 04 điện thoại tại nhà T rồi đi về nhà. Số tài sản này T đã để mất nên không thu hồi được.

- Lần 2: Vào khoảng 23 giờ ngày 27/3/2024, Nguyễn Văn T rủ Nguyễn Thành T2 đi tìm tài sản lấy trộm, Thông đồng ý. T đem theo 01 cây kiềm cộng lực rồi điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T2 đến nhà trọ “Phước Vy” thuộc xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp gặp Lâm Trí T7 mượn xe mô tô biển số 66C1 – 520.16 đi công việc.

Do là bạn bè quen biết nên Trí T7 đồng ý. T7 để xe mô tô không rõ biển số ở khu nhà trọ của Trí Tài rồi điều khiển xe mô tô biển số 66C1 – 520.16 chở T2 đến địa bàn huyện L.

Khi đến trước cửa hàng điện thoại “Hữu Xếp” do anh Lê Hữu X làm chủ, tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện L, T7 thấy cửa hàng khóa cửa bên ngoài nên dừng xe lại kiểm tra không thấy người trông giữ, T7 và T2 dùng dây buộc cửa trước các hộ lân cận, T7 dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa đột nhập vào bên trong đập vỡ kiếng tủ trưng bày lấy trộm tài sản gồm:

  • - 01 Ipad;
  • - 03 điện thoại di động;
  • - 07 xác máy điện thoại di động;
  • - 02 loa Bluetooth hát karaoke;
  • - 04 micro và 01 máy nghe nhạc.

T7 đem ra đưa cho T2 đứng bên ngoài cảnh giới rồi điều khiển xe chạy về nhà T7.

Đến khoảng 08 giờ ngày 28/3/2024, T2 lấy 01 điện thoại Redmi màu đen trong số tài sản vừa trộm được sử dụng, T7 đem bán 01 loa Bluetooth hát karaoke có 02 micro cho Nguyễn Ngọc T4 với giá 500.000 đồng; còn 01 loa Bluetooth hát karaoke có 02 micro T7 cho Lâm Trí T7 mượn, sau đó Trí T7 trả lại cho T7 cất giữ.

Cơ quan điều tra tạm giữ vật chứng và tài sản gồm:

1- Nguyễn Văn T:

  • - 01 Ipad màu trắng bạc;
  • - 01 điện thoại di động màu xanh hiệu OPPO;
  • - 01 điện thoại di động màu trắng – đen hiệu SAMSUNG;
  • - 07 xác máy điện thoại di động;
  • - 01 loa Bluetooth hát karaoke hiệu SDRD;
  • - 02 micro và 01 máy nghe nhạc màu đen.

Số tài sản trên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lê Hữu X xong.

  • - 02 cái bao tay đen - đỏ và tím - xanh;
  • - 01 cây kiềm cộng lực bằng kim loại, thân kiềm màu xanh, cán cầm màu đen;
  • - 01 cây kiềm răng bằng kim loại màu đen, trên thân kiềm có bao da màu đỏ vàng;
  • - 01 cây khóa lục giác bằng kim loại màu trắng và 01 cây mỏ lết, trên thân mỏ lết có bao da đỏ vàng.

Đây là công cụ T sử dụng vào việc phạm tội.

2- Nguyễn Thành T2: 01 điện thoại di động màu đen hiệu Redmi.

3- Nguyễn Ngọc T8:

  • - 01 loa Bluetooth hát karaoke hiệu SDRD;
  • - 02 micro.

4- Lâm Trí T7: 01 xe mô tô biển số 66C1 – 520.16. Xe này do Lê Mỹ X1 (vợ của Hồ Thanh T6) đứng tên chủ sở hữu. Trí T7 thuê xe mô tô nêu trên làm phương tiện đi lại, T6 và X1 không biết T7 sử dụng vào việc phạm tội nên yêu cầu nhận lại xe mô tô. Ngày 12/6/2024, cơ quan điều tra đã trả cho chị X1 theo quy định.

- Thu giữ 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến các bị cáo T7 và P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 11/11/2023.

Tại kết luận định giá tài sản số 25 ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Lumia 625 màu đen giá 450.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Lumia 625 màu xanh giá 450.000 đồng;
  • - 05 điện thoại di động hiệu Lumia 625 màu trắng giá 2.375.000 đồng/5 cái;
  • - 01 máy khoan pin hiệu Hitachi, màu đen giá 495.000 đồng;
  • - 01 đồng hồ thông minh hiệu Xiaomi, màu đen giá 2.700.000 đồng;
  • - 01 bóp da nam, màu nâu giá 180.000 đồng.

Tổng cộng: 6.650.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 27 ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:

  • - 01 Ipad Mini màu trắng bạc, mặt sau có hình trái táo là 200.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5s, màu xanh là 30.000 đồng;
  • - 01 xác máy điện thoại di động Samsung J3, màu trắng đen là 15.000 đồng;
  • - 01 xác máy điện thoại di động, màu trắng bạc hiệu Oppo A39 màu trắng bạc là 20.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động màu trắng-hồng, hiệu Samsung J7 Rime, màu trắng hồng là 50.000 đồng;
  • - 01 xác điện thoại di động hiệu Oppo F5, màu đen là 20.000 đồng;
  • - 01 xác điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh là 20.000 đồng;
  • - 01 xác điện thoại di động hiệu Oppo F1S, màu đen là 20.000 đồng;
  • - 01 xác điện thoại di động hiệu Samsung A10, màu đen là 20.000 đồng;
  • - 01 xác điện thoại di động hiệu Xiaomi7, màu xanh là 10.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1, màu đen là 50.000 đồng;
  • - 01 máy nghe nhạc hiệu KiMISO, màu đen là 400.000 đồng;
  • - 02 loa Bluetooth hát Karaoke và 04 (bốn) micro không dây là 900.000 đồng;
  • - 01 kính tủ 01 mét x 0,5 mét (kính loại 5 li) là 85.000 đồng.

Tộng cộng: 1.840.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Hùng T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Hữu P liên đới bồi thường 6.650.000 đồng.

Anh Lê Hữu X yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T2 liên đới bồi thường thiệt hại kính tủ bị hư hỏng số tiền 85.000 đồng.

Ngày 11/7/2024, các bị cáo T và P tác động gia đình bồi thường 6.650.000 đồng cho anh T3 xong, anh T3 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo T và P.

Đối với yêu cầu của anh X, ngày 15/7/2024, các bị cáo T và T2 tự nguyện nộp 200.000 đồng theo biên lai số 3783 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung để đảm bảo thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSLVg ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung đã truy tố:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
  • - Các bị cáo Lê Hữu P và Nguyễn Thành T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T2 về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Người làm chứng không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Qua đó đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T2 có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản.

Vào ngày 10/11/2023 và ngày 27/3/2024, tại địa bàn xã L và xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Hữu P Nguyễn Thành T2 có hành vi lén lút lấy trộm tài sản điện thoại, ipad, máy khoan, đồng hồ, bóp da, loa, micro... của anh Trần Hùng T3, anh Lê Hữu X với tổng trị giá 8.405.000 đồng, trong đó: Nguyễn Văn T và Lê Hữu P trộm cắp tài sản của anh Trần Hùng T3 trị giá 6.650.000 đồng, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T2 lấy trộm tài sản của anh Lê Hữu X với tổng trị giá 1.755.000 đồng với mục đích vụ lợi cá nhân.

Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Các bị cáo là người đã thành niên nên các bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của người khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Thế nhưng, do bản tính tham lam, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản nên các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại.

Đây là vụ án đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó vai trò của từng bị cáo được thể hiện như sau:

- Bị cáo Nguyễn Văn T là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, tuy nhiên bị cáo đã có 02 tiền án về các tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nếu biết ăn năn hối cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân và phụ giúp gia đình. Thế nhưng, với bản tính tham lam, xem thường pháp luật, bị cáo là người đã chủ động rủ rê các bị cáo Lê Hữu P, Nguyễn Thành T2 để tìm tài sản lấy trộm và chuẩn bị công cụ dụng cụ, khi phát hiện cửa hàng điện thoại di động của các bị hại khóa cửa thì bị cáo là người trực tiếp phá ổ khóa cửa và lấy trộm tài sản của các bị hại anh T3 và anh X tổng trị giá tài sản là 8.405.000 đồng. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò là rủ rê, thực hành tích cực.

- Các bị cáo Lê Hữu P, Nguyễn Thành T2 đều là người đã thành niên, trong đó bị cáo Lê Hữu P đã từng 02 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích, còn bị cáo Nguyễn Thành T2 có tiền sự đã bị xử phạt hành chính về các hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, lẽ ra các bị cáo phải biết ăn năn hối cải, cố gắng lao động để tạo ra thu nhập chăm lo cho gia đình. Thế nhưng, với bản tính tham lam, khi được Nguyễn Văn T rủ rê tìm tài sản lấy trộm thì các bị cáo liền đồng ý. Khi phát hiện thấy cửa hàng điện thoại di động của các bị hại thì các bị cáo đứng bên ngoài cảnh giới để cho bị cáo T phá khóa cửa vào bên trong lấy trộm tài sản. Trong vụ án này bị cáo Lê Hữu P cùng bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản của anh Trần Hùng T3 trị giá 6.650.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thành T2 cùng bị cáo Nguyễn Văn T lấy trộm tài sản của anh Lê Hữu X với tổng trị giá 1.755.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm, giúp sức tích cực.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)

g) Tái phạm nguy hiểm; ...”

[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo T thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo P, T2 tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật. Các bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo T và P, T2 thực hiện hai lần trộm cắp tài sản: lần 1 trị giá tài sản là 6.650.000 đồng, lần 2 trị giá tài sản là 1.775.000 đồng nên chưa đủ căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo T.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[5] Về tình tiết tăng nặng: không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường và tự nguyện nộp tiền để đảm bảo bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, vì vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với các bị cáo. Riêng bị cáo T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vì vậy cần áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét trong việc lượng hình đối với bị cáo T2.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Lê Hữu X yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T2 liên đới bồi thường thiệt hại kiếng tủ bị hư hỏng số tiền 85.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh X và tự nguyện nộp 200.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung để đảm bảo thi hành án.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 02 cái bao tay đen đỏ và tím xanh; 01 cây kiềm cộng lực bằng kim loại, thân kiềm màu xanh, cán cầm màu đen; 01 cây kiềm răng bằng kim loại màu đen, trên thân kiềm có bao da màu đỏ vàng; 01 cây khóa lục giác bằng kim loại màu trắng; 01 cây mỏ lết, trên thân mỏ lết có bao da đỏ vàng. Vì đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
  • - Tiếp tục quản lý số tiền 200.000 theo biên lai số 3783 ngày 15/7/2024 để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

(Hiện các vật chứng và tài sản do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến các bị cáo T và P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 10/11/2023.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Đối với Lâm Trí T7 cho bị cáo Nguyễn Văn T mượn xe mô tô làm phương tiện đi lại, Trí T7 không biết T7 sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T khi trộm tài sản của anh Lê Hữu X có hành vi đập cửa kiếng tủ để trộm điện thoại, qua định giá cửa kiếng tủ trị giá 85.000đ, xét thấy chưa đủ định lượng để xử lý bị cáo T về hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hưng hỏng tài sản nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T mức án 02 năm tù (Hai năm tù). Thời gian tù tính từ bị cáo chấp hành hình phạt.

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu P mức án 09 tháng tù (Chín tháng tù). Thời gian tù tính từ bị cáo chấp hành hình phạt.

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T2 mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời gian tù tính từ bị cáo chấp hành hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành T2 liên đới bồi thường cho anh Lê Hữu X số tiền 85.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

+ Tịch thu tiêu hủy:

  • - 02 cái bao tay đen đỏ và tím xanh;
  • - 01 cây kiềm cộng lực bằng kim loại, thân kiềm màu xanh, cán cầm màu đen;
  • - 01 cây kiềm răng bằng kim loại màu đen, trên thân kiềm có bao da màu đỏ vàng;
  • - 01 cây khóa lục giác bằng kim loại màu trắng;
  • - 01 cây mỏ lết, trên thân mỏ lết có bao da màu đỏ vàng.

Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

+Tiếp tục quản lý:

  • - Số tiền 200.000 theo biên lai số 3783 ngày 15/7/2024 để đảm bảo thi hành án.

(Hiện các vật chứng và tài sản do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến các bị cáo T và P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 10/11/2023.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Hữu P, Nguyễn Thành T2 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND huyện Lai Vung; (2b)
  • - Công an huyện L; (4b)
  • - Chi cục THA huyện L; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (3b)
  • - Lưu VT, TP; (2b)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bé Mười

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Duy Oanh – Nguyễn Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/TLST-HS ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger