|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 27 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Đăng Thiện
Ông Nguyễn Văn Sâm
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Bình - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo;
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm1994 tại: Xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị N; Có vợ là Lê Thị L1; Có 01 con sinh năm 2015 với vợ đã ly hôn Đinh Thị T1;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến ngày 15/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- Người làm chứng: .
1. Anh Nguyễn Kim D, sinh năm 1999
Trú tại : Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Đới Văn D1, sinh năm 1992.
Trú tại: Thôn X, xã X, huyện N, Thanh Hóa.
3. Anh Lê Phú C, sinh năm 1993.
Trú tại: Thôn B, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
4. Anh Dương Ngọc L2, sinh năm 1989
Trú tại : Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
5. Chị Lê Thị L1, sinh năm 2002
Trú tại: Thôn X, xã X, huyện N, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa những người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do (Đới Văn D1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Lê Ngọc C1 - Thẩm phán, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
2. Ông Đỗ Tiến D2 - Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 06/6/2024, Công an thị trấn S phối hợp với Lực lượng an ninh Cảng hàng không T đang tuần tra kiểm soát đảm bảo anh ninh trật tự khu vực Cảng hàng không T thì nhận được thông tin của lực lượng an ninh soi chiếu - Đội an ninh hàng không trong quá trình kiểm tra hành khách sau cổng từ phát hiện hành khách có nghi vấn (khi qua cổng từ thì phát tín hiệu cảnh báo). Tổ công tác đã đến cùng với lực lượng soi chiếu kiểm tra và phát hiện Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1994, trú tại thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là hành khách đi chuyến bay VJ247 chặng từ Thanh Hóa đến thành phố Hồ Chí Minh) có cất giấu một bao thuốc lá nhãn hiệu JET màu trắng trong quần lót mà T đang mặc. Bên trong bao thuốc lá có 01 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng (T khai nhận đó là ma túy đá, do T mua để sử dụng); các ống nhựa, nắp chai nhựa và một ống thủy tinh màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là dụng cụ của T dùng để sử dụng ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định. Ngoài ra, còn thu giữ của T số tiền 7.420.000₫ (Bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax vỏ màu xanh, lắp số thuê bao 0364.740.546.
Tại thời điểm bắt quả tang T còn có Nguyễn Kim D, sinh năm 1999 trú tại thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là bạn cùng đi với T đến Cảng hàng không T2 làm thủ tục lên chuyến bay vào thành phố Hồ Chí Minh nên tổ công tác đã làm việc, lấy lời khai đối với Nguyễn Kim D để phục vụ điều tra, làm rõ vụ việc. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc T tại thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
2
Cơ quan điều tra phối hợp Trung tâm y tế huyện T tiến hành xét nghiệm các chất gây nghiện đối với Nguyễn Ngọc T. Kết quả Nguyễn Ngọc T dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine; Nguyễn Kim D âm tính với chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 2225/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,542g (Không phẩy năm trăm bốn hai gam), loại Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng bên trong ống thủy tinh của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 2277/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận số tiền 7.420.000đ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T, là tiền thật.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: Sáng ngày 03/6/2024, T đưa bố đẻ là ông Nguyễn Ngọc L đến điều trị bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N để chăm sóc ông L. Sau khi đưa bố mẹ đến Bệnh viện, T nghe nói ở khu vực tượng đài L, phường L, thành phố T có người bán ma túy đá, nên khoảng 11 giờ cùng ngày, T bắt xe ôm đến khu vực tượng đài L với mục đích mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, T đi vào khu vực ngõ dân sinh thì gặp và đưa số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho một người đàn ông không quen biết làm nghề chạy xe ôm để mua ma túy đá. Người xe ôm mua được gói ma túy đá đưa cho T. Sau khi mua được ma tuý, T về nhà, tự làm bộ cóng và sử dụng một phần. T cất giấu số ma túy còn lại và bộ cóng trong vỏ bao thuốc lá JET màu trắng với mục đích để sử dụng. Ngày 06/6/2024, T cất giấu vỏ bao thuốc lá JET màu trắng đựng dụng cụ và chất ma tuý trong quần lót đang mặc, nhằm tránh bị phát hiện cùng D đến S để bay vào thành phố Hồ Chí Minh khi đang làm thủ tục qua cửa từ an ninh sân bay thì bị máy soi chiếu phát hiện và bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Đối với tài sản thu giữ của Nguyễn Ngọc T, gồm: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax vỏ màu xanh, số Imei: 353730393364208, lắp số thuê bao 0364.740.546 và số tiền 7.420.000₫ (Bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng); quá trình điều tra chứng minh được đây là tài sản cá nhân của T, không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý các đồ vật, tài sản trên bằng biện pháp trả lại cho chủ sở hữu. Do T đang bị tam giam, nên gia đình T đã nhận lại tài sản.
3
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã rà soát đối tượng (người đàn ông chạy xe ôm), rà soát camera an ninh tại khu vực T khai mua ma tuý, nhưng không xác định được người này là ai, nên không có căn cứ để xử lý.
Nguyễn Ngọc T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 10/7/2024 Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0052574/QĐ-XPHC.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSTX ngày 19/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân (Viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thọ Xuân giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 13 đến 16 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tiêu hủy vật chứng còn lại sau giám định và các vật chứng không có giá trị sử dụng. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát; Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được vào khoảng 17giờ 10 phút ngày 06/6/2024, tại Cảng hàng không T, Công an thị trấn S và đội an ninh sân bay Cảng hàng không T bắt quả tang Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trong người 0,542g (Không phẩy năm trăm bốn mươi hai gam) ma túy, loại: Methaphetamine, với mục đích để sử dụng Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.
4
[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc T với khối lượng 0,542g (Không phẩy năm trăm bốn mươi hai gam) ma túy, loại: Methaphetamine như kết luận giám định số 2225/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là chính xác.
[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy nên có nhân thân xấu.
[5] Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
[6] Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Ngọc T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5
[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu huỷ;
[8] Về án phí: Bị cáo có tội, không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tuyên bố Nguyễn Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 329; Điều 331 và Điều 333 BLTTHS:
Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 13 (Mười ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ (06/6/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.
Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân lập số 73, ngày 23 tháng 7 năm 2024.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
6
|
Lê Xuân Tuyên |
7
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN NGỌC TUẤN- TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
