Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HSST

Ngày 22/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
  2. Ông Trần Văn Sơn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Bích H; Giới tính: Nữ; tên gọi khác: không; Sinh ngày: 16/12/199x tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Thôn 6, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Tổ 66, phường H, quận N, Thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ may màn rèm; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Tiền án, tiền sự: không; Cha: Nguyễn S (SN: 195x; còn sống); Mẹ: Đỗ Thị Hồng C (SN: 195x; còn sống); Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Nguyễn Khắc T (SN: 198x; còn sống); Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 201x; con nhỏ sinh năm 201x); Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Ngô Thị T - Sinh năm: 199x- Trú tại: Tổ 6 phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Khắc T- Sinh năm: 198x- Trú tại: Tổ 64 phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, Nguyễn Thị Bích H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ nâu, BKS: 92G1-386.xx ghé mua bánh mỳ tại quán của chị Ngô Thị T (SN: 199x; HKTT: tổ 06 phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) nằm trên vỉa hè đường Trần Văn Đ, đoạn ngã tư đường Trần Văn Đ – Minh M, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Trong lúc đứng mua bánh mì, Hồng nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng nhựa màu trắng của chị T, để trên đầu tủ kính của quầy bánh mì nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau khi mua được bánh mì, lợi dụng sơ hở lúc chị T đang quay lưng vào trong, H đã lấy trộm chiếc điện thoại di động trên, cất giấu vào túi áo khoác rồi điều khiển xe đi về nhà tại tổ 64 phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng.

Đến 6 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi phát hiện mất điện thoại, nghi ngờ H đã lấy trộm nên chị T đã trình báo sự việc với Công an phường H (BL: 12).

Khi về đến nhà, H liền tắt nguồn chiếc điện thoại vừa trộm được và để trên bàn ăn trong phòng bếp. Lúc này, anh Nguyễn Khắc T (SN: 198x; HKTT: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; là chồng của H) nhìn thấy chiếc điện thoại lạ trong nhà, hỏi H mới biết là tài sản trộm cắp nên đã lập tức yêu cầu H đem trả chiếc điện thoại đi động trên cho người mất, tuy nhiên H vẫn chưa thực hiện.

Đến khoảng 9 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường H đến mời Nguyễn Thị Bích H về trụ sở làm việc.

Về tang vật thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng nhựa màu trắng;
  • 01 áo khoác phao màu trắng;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ, BKS 92G1-386.xx.

Theo Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận N, thành phố Đà Nẵng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng nhựa màu trắng, dung lượng 128 GB, thời điểm định giá tháng 02/2024, có giá 13.432.000 đồng (BL: 39).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 17/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Thị Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.
  • Về xử lý tang vật:

Quá trình điều tra, CQCSĐT Công an quận N đã trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng màu trắng cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị T nên không đề cập đến.

Đối với 01 áo khoác phao màu trắng, H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, có giá trị sử dụng nhỏ nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ, BKS 92G1-386.xx, số khung: RLHJF515KZ085xxx; số máy: JF87E5183xxx thuộc ở hữu của Nguyễn Thị Bích H, là phương tiện đi lại không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình giải quyết, nguời bị hại – bà Ngô Thị T có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về phần bồi thường dân sự bà T không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Bích H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, tại quán bánh mì nằm trên vỉa hè đường Trần Văn Đ, đoạn ngã tư đường Trần Văn Đ- Minh M, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị Bích H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng nhựa màu trắng, trị giá 13.432.000 đồng của chị Ngô Thị T.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Thị Bích H đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS. Do đó cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận N đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

  1. [3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Do ý thức coi thường pháp luật, lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã nảy sinh lòng tham lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.
  2. [4] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Ngoài ra, người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đang chăm sóc con bị khuyết tật nặng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.
  3. [5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hiện tại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo đang cư trú để tiếp tục giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  4. [6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. [7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.
  6. [8] Về xử lý tang vật:

Quá trình điều tra, CQCSĐT Công an quận N đã trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, có ốp lưng màu trắng cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị T nên không đề cập đến.

Đối với 01 áo khoác phao màu trắng, H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, có giá trị sử dụng nhỏ nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ, BKS 92G1-386.xx, số khung: RLHJF515KZ085xxx; số máy: JF87E5183xxx thuộc ở hữu của Nguyễn Thị Bích H, là phương tiện đi lại không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho bị cáo.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận N đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024).

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, điều khoản luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

  1. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/7/2024).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho UBND phường H, quận N, Tp Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Bích H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý tang vật: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

  • Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác phao, màu trắng của Nguyễn Thị Bích H.
  • Trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ, BKS 92G1-386.xx, số khung: RLHJF515KZ085xxx; số máy: JF87E5183xxx cho bị cáo Nguyễn Thị Bích H, (Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận N đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024).

3. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thị Bích H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích án treo)

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận N;
  • - Công an quận N;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ TRÂM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 62/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích H phạm tội "Trộm cắp tài sản", căn cứ: Khoản 1 Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger