Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 05-11-2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hành và bà Hoàng Thị Thu Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 25-10-2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15 tháng 9 năm 1989, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa; Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: quần chúng; Con ông: Nguyễn Trung D, sinh năm: 1953; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1954; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1988, Nghề nghiệp: Xuất khẩu lao động ở nước ngoài; Con: có 01 đứa, sinh năm 2007.

Tiền án: Có 02 tiền án:

- Bản án số 59/2016/HSST, ngày 26/4/2016 Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm, 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

- Bản án số 146/2018/HSST, ngày 05/10/2018 (bản án xác định tái phạm) Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù giam, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 14/01/2023, nhưng chưa được xóa án tích lại phạm tội mới.

Tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Ngày 16/4/2008, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 30 tháng tù, về tội Cướp giật tài sản, tại Bản án số 48/2008/HSPT, đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp kể từ ngày 02/7/2024, đến ngày 11/7/2024, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, cho đến nay, (có mặt).

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1965;Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
  2. Bà Phùng Thị Thúy V, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
  3. Ông Trần Xuân L1, sinh năm 1965; Nghề nghiệp: Công nhân; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Tiến K, sinh năm 1965; Nghề nghiệp: Hưu trí; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
  2. Bà Kiều Thị Thu H1, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Kinh doanh; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
  3. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Buôn bán; địa chỉ: tổ dân phố C,phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
  4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1996; Nghề nghiệp: Nhân viên kinh doanh; địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
  5. Ông Hà Nguyễn Vinh Q, sinh năm 2006; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
  6. Ông Nguyễn Trung D, sinh năm 1953; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian kể từ ngày 18/6/2024 đến ngày 02/7/2024, Nguyễn Văn T sử dụng xe mô tô BKS: 38K1-003.61 (xe của em dâu là chị Đặng Thị H, Nguyễn Văn T mượn trước đó để làm phương tiện đi lại) mang theo chiếc túi vải đựng 03 chiếc cờ lê (loại 22mm, 24mm và 32mm), 01 tuýp mở ốc loại 17mm, 01 bộ lục giác mở ốc và 01 chiếc Tuốc nơ vít (gọi tắt là bộ D1 phá khóa) đi đến các nhà dân ở phường K và phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để phá khóa cửa đột nhập vào nhà thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Sáng ngày 18/6/2024, Nguyễn Văn T đi xe mô tô BKS: 38K1-003.61, mang theo chiếc túi đựng bộ dụng cụ phá khóa đi đến địa bàn phường K để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị Thanh T1, ở tổ dân phố Đ, phường K thì thấy cổng nhà bị khóa (khóa bằng ổ khóa treo). Sau khi quán sát thấy vắng người, Nguyễn Văn T dựng xe mô tô ở ngoài đường, rồi lấy 02 chiếc cờ lê trong túi vải kẹp vào giữa ổ khóa, rồi dùng hai tay kéo ra, thì ổ khóa bật ra. Sau khi phá được ổ khóa, Nguyễn Văn T mở cổng đi vào nhà. Do cửa nhà không khóa nên Nguyễn Văn T đi vào phòng ngủ thứ nhất (sát với phòng khách) lấy chiếc điện thoại Iphone 8 để ở trên chõng tre ở trong phòng ngủ bỏ vào trong túi vải. Sau đó, T lấy chiếc tuốc nơ vít từ trong túi vải cạy phá ngăn phía dưới của tủ gỗ ở trong phòng, thì thấy trong ngăn tủ có một chiếc hộp màu đỏ (loại hộp đựng vàng) và một túi nilon màu trắng; mở hộp ra thì thấy một dây chuyền kim loại màu vàng, có đính mặt in hình cánh hoa màu vàng; một đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, có đính viên ngọc màu trắng; một chiếc huy hiệu của Công ty F bằng kim loại màu vàng hình đồng xu và mở túi ni lon ra thì thấy có 10.000.000đ tiền mặt. Nguyễn Văn T lấy toàn bộ số kim loại màu vàng và tiền mặt bỏ vào trong túi vải và túi quần của mình. Sau khi lấy trộm được tài sản, Nguyễn Văn T để quên chiếc tuốc nơ vít tại hiện trường. Nguyễn Văn T tiếp tục đi sang phòng ngủ thứ hai, rồi mở tủ quần áo ra (cửa tủ không khóa) lục tìm tài sản thì thấy một chiếc máy tính xách tay hiệu HP và một con lợn đựng tiền tiết kiệm bằng sứ, Nguyễn Văn T lấy chiếc máy tính xách tay bỏ vào trong túi vải và đập vỡ con lợn tiết kiệm lấy hết toàn bộ số tiền ở bên trong, rồi đi ra lấy xe mô tô đi về nhà.

Sau khi lấy trộm được tài sản, đến trưa cùng ngày, Nguyễn Văn T lấy số tiền trộm cắp được trong con lợn tiết kiệm ra đếm được 3.200.000đồng. Đồng thời đưa đôi bông tai vàng và dây chuyền vàng có mặt hình cánh hoa đến bán cho chị Kiều Thị Thu H1, nhân viên cửa hàng vàng bạc Anh L2, ở tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, với giá 6.200.000đ. Khi bán, T nói dối là vàng của mẹ nhờ đi bán nên chị H1 không biết tài sản do trộm cắp mà có. Đến ngày 20/6/2024, Nguyễn Văn T đưa chiếc máy tính xách tay hiệu HP trộm cắp được đến bán cho chị Lê Thị H2, chủ cửa hàng điện thoại “Quyết Hạ” ở phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh được 3.500.000đ. Khi bán máy tính, T nói dối là máy tính của mình nên chị Lê Thị H2 không biết tài sản trộm cắp mà có. Còn chiếc điện thoại Iphone 8 trộm cắp được, Nguyễn Văn T cho Hà Nguyễn Vinh Q (cháu, con chị gái) mượn để sử dụng và nói dối là tài sản của mình, nên cháu Q không biết tài sản do phạm tội mà có; Chiếc huy hiệu của Công ty F bằng vàng, Nguyễn Văn T làm rơi mất khi nào không biết.

Tài sản mà Nguyễn Văn T trộm cắp bao gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 8; 01 dây chuyền vàng, có mặt dây hình hoa in hình cánh hoa bằng vàng 18K, khối lượng 02 chỉ; 01 đôi bông tai bằng vàng 18K, có đính ngọc màu trắng hình tròn, khối lượng 01 chỉ; 01 cái huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, hình đồng xu, khối lượng 1,2 chỉ; 10.000.000đồng tiền VNĐ; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu HP và một con lợn tiết kiệm bằng sứ (bên trong có 3.200.000đ tiền mặt), là của chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/7/2024 và bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG, ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã K kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 8, màu vàng hồng, đã qua sử dụng, trị giá là 495.000đồng; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu HP 240G8, đã qua sử dụng, trị giá là 10.240.000đồng; 01 dây chuyền vàng, có mặt in hình cánh hoa bằng vàng 18K, khối lượng 02 chỉ, trị giá là 8.700.000đồng; 01 đôi bông tai bằng vàng 18K, có đính ngọc trắng hình tròn, khối lượng 01 chỉ, trị giá là 4.350.000đồng; 01 cái huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, hình đồng xu, khối lượng 1,2 chỉ, trị giá là 8.820.000đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn T trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thanh T1 là 45.805.000đồng.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 25/6/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục đi xe mô tô BKS: 38K1-00361 mang theo túi vải đựng bộ dụng cụ phá khóa đi đến địa bàn phường K để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T đi qua nhà chị Phùng Thị Thúy V, ở tổ dân phố Q, phường K thì thấy cổng nhà không khóa, nên Nguyễn Văn T dựng xe ngoài đường, rồi mở cổng đi vào trong sân nhà. Sau khi thấy cửa chính được khóa bằng ổ khóa treo và quan sát thấy vắng người, Nguyễn Văn T lấy 02 chiếc cờ lê trong túi vải ra phá ổ khóa. Sau khi phá được ổ khóa, Nguyễn Văn T đi vào trong phòng ngủ thứ nhất (sát phòng khách) thì thấy chiếc két sắt ở trong phòng, T lấy các dụng cụ mang theo để cạy phá két sắt nhưng không phá được. Nguyễn Văn T tiếp tục đi sang phòng ngủ thứ hai lấy chiếc điện thoại Iphone 6s, màu xám và chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen để trên bàn học bỏ vào trong túi vải; đồng thời đập vỡ con lợn tiết kiệm bằng sứ để ở phía dưới cuối giường ngủ lấy được 350.000đ bỏ vào trong túi vải của mình. Sau khi lấy trộm được tài sản, Nguyễn Văn T đi ra khỏi nhà lấy xe mô tô đi mua một chiếc la-via (bằng kim loại, dài khoảng 01m) tại cửa hàng K1, gần ngã 3 chợ Mới, ở phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, rồi quay lại nhà chị Phùng Thị Thúy V để phá két sắt lấy trộm tài sản. Khi vào trong phòng ngủ thứ nhất, Nguyễn Văn T lật ngửa két sắt ra giữa nền nhà, rồi dùng la-via phá cửa két sắt. Sau khi phá được két sắt, Nguyễn Văn T lấy chiếc túi giấy màu trắng ở trong két sắt ra thì thấy trong túi giấy có một sợi dây chuyền kim loại có gắn mặt kim loại màu vàng; một đôi hoa tai bằng kim loại màu vàng và 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng. Nguyễn Văn T lấy toàn bộ số kim loại màu vàng trong túi giấy bỏ vào túi quần của mình, rồi đi về nhà. Trên đường về, Nguyễn Văn T vứt chiếc la-via ở dọc đường.

Đến trưa cùng ngày, Nguyễn Văn T đưa 01 dây chuyền vàng có gắn mặt hình trái tim bằng vàng, 01 đôi hoa tai vàng và 01 chiếc nhẫn vàng đến bán cho chị Nguyễn Thị P, nhân viên cửa hàng vàng bạc Phú Nhân N1, ở phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh được 36.815.000đ. Khi bán vàng, Nguyễn Văn T nói dối là vàng của mẹ nhờ đi bán, nên chị Nguyễn Thị P không biết tài sản do trộm cắp mà có. Trên đường đi về, Nguyễn Văn T dừng lại kiểm tra chiếc máy tính thì thấy máy tính đã cũ, vỏ máy bị vỡ, không lên nguồn, nên Nguyễn Văn T đã vứt xuống cầu Ô, ở thôn H, xã K; chiếc điện thoại Iphone 6s, màu xám, Nguyễn Văn T lắp sim của mình vào để sử dụng; còn 01 chiếc nhẫn vàng, Nguyễn Văn T làm rơi mất khi nào không biết.

Tài sản mà Nguyễn Văn T đã trộm cắp gồm: 01 chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS; một con lợn tiết kiệm bằng sứ (bên trong có 350.000đ tiền mặt); 01 dây chuyền vàng 9999, khối lượng 03 chỉ; 01 mặt dây chuyền vàng 9999, hình trái tim, khối lượng 0,5 chỉ; 01 đôi hoa tai vàng 9999, hình tròn, khối lượng 01 chỉ và 02 chiếc nhẫn vàng 9999, khối lượng 1,5 chỉ là của chị Phùng Thị Thúy V, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG và số 26/KL-HĐĐG, cùng ngày 11/7/2024 và bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã K kết luận: 01 chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám, đã qua sử dụng, trị giá là 750.000đ; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 750.000đ; 01 dây chuyền vàng 9999, khối lượng 03 chỉ, trị giá 22.500.000đ; 01 mặt dây chuyền vàng 9999, hình trái tim, khối lượng 0,5 chỉ, trị giá 3.750.000đ; 01 đôi hoa tai vàng 9999, hình tròn, khối lượng 01 chỉ, trị giá 7.500.000đ; 02 chiếc nhẫn vàng 9999, khối lượng 1,5 chỉ, trị giá 11.250.000đ và chiếc két sắt bị hư hỏng gây thiệt hại 352.500đồng

Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Văn T trộm cắp của chị Phùng Thị Thúy V là 46.850.000đồng, đồng thời đập phá chiếc két sắt bị hư hỏng, gây thiệt hại 352.500đồng.

Vụ thứ ba: Sáng ngày 28/6/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục đi xe mô tô BKS: 38K1-00361 mang theo túi vải đựng bộ dụng cụ phá khóa đi đến phường K để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi qua nhà anh Trần Xuân L1, ở tổ dân phố N, phường K thấy cổng nhà không khóa, quan sát thấy vắng người nên Nguyễn Văn T đi vào dựng xe ở ngoài sân. Do cửa chính chỉ khép hờ, không khóa nên Nguyễn Văn T mở cửa đi vào nhà lục tìm tài sản để lấy trộm. Sau khi lục tìm ở trong phòng ngủ nhưng không thấy tài sản gì nên Nguyễn Văn T đi vào phòng bếp thì thấy chiếc ba lô treo trên tường, Nguyễn Văn T lấy chiếc ba lô xuống, rồi mở ba lô lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 bỏ vào trong túi quần của mình, rồi đi ra lấy xe mô tô đi về nhà.

Chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 mà Nguyễn Văn T trộm cắp là của anh Trần Văn L3, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã K kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, đã qua sử dụng mà Nguyễn Văn T trộm cắp trị giá là 90.000đồng.

Vụ thứ tư: Sáng ngày 02/7/2024, Nguyễn Văn T tiếp tục đi xe mô tô BKS: 38K1-00361 mang theo túi vải đựng bộ dụng cụ phá khóa đi đến phường K để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi qua nhà ông Nguyễn Tiến K, ở tổ dân phố Đ, phường K thì thấy cổng nhà không khóa, nên Nguyễn Văn T dừng xe mô tô trước cửa, rồi đi bộ vào nhà. Sau khi quan sát thấy vắng người, Nguyễn Văn T đi theo cửa nách bên phải (cửa nách không khóa) vào nhà. Khi vào trong phòng ngủ thấy chiếc túi bằng vải màu nâu, bên trong chứa 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Dell, màu đen, Nguyễn Văn T lấy chiếc túi xách đựng máy tính rồi đi ra ngoài. Khi vừa ra đến cửa thì ông Nguyễn Tiến K vừa đi về nhà bắt gặp, nên Nguyễn Văn T vứt chiếc túi xách đựng máy tính ở ngoài cửa chính, rồi ra lấy xe mô tô lên xe bỏ chạy.

Chiếc máy tính xách tay hiệu Dell mà Nguyễn Văn T trộm cắp là của ông Nguyễn Tiến K, sinh năm 1952, trú tại tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 04/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã K kết luận: Chiếc máy tính xách tay hiệu D2, đã qua sử dụng mà bị can trộm cắp trị giá là 5.400.000đồng.

Tổng gía trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp là 98.145.000đ; Nguyễn Văn T đưa đi bán tài sản trộm cắp được 46.515.000đ, cùng với 13.550.000đ tiền mặt trộm cắp được; tổng cộng được 60.065.000đ, bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng chi tiêu cá nhân.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng gồm: 01(một) túi đựng máy tính, bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng; 03(ba) chiếc cờ lê kích thước: 22mm, 24mm và 32mm,bằng kim loại màu sáng trắng, đã qua sử dụng; 01(một) tuýp mở ốc kích thước 17mm, dài 25cm bằng kim loại màu sang trắng, trên bề mặt có in chữ KOURITSU 17mm Cr-V Japan; 01(một) bộ lục giác mở ốc, vỏ bên ngoài bằng nhựa, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01(một) tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 30cm, phần tay cầm làm bằng cao su màu đen-vàng cam, đã qua sử dụng; 01(một) két sắt hiệu Việt-Tiệp, size 45, màu xanh xám, sản xuất năm 2014, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do bị cạy phá; 01(một) áo khoác bằng vải bò, màu xàm đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu VINA STAR, màu xanh dương, sọc đen trắng ở giữa, hai bên mũ có in hình ngôi sao năm cánh màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu BK TEK, màu đỏ bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01(một) đôi dép nhãn hiệu Sport, bằng nhựa, màu xanh dương đã qua sử dụng; 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Surius, màu đen-đỏ, số khung RLCS5C640AY344560, số máy 5C64-344560, BKS: 38K1-00361 đã qua sử dụng.

Chiếc máy tính hiệu HP 240G8 và chiếc điện thoại Iphone 8 đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thanh T1; Chiếc điện thoại Iphone 6s đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Phùng Thị Thúy V; Chiếc điện thoại N2 đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Văn L3 và chiếc máy tính hiệu D2 đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Tiến K. Các vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Đối với 01 dây chuyền vàng, có mặt dây hình hoa in hình cánh hoa bằng vàng 18K, khối lượng 02 chỉ; 01 đôi bông tai bằng vàng 18K, có đính ngọc trắng hình tròn; 01 cái huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, hình đồng xu, khối lượng 1,2 chỉ; 01 dây chuyền vàng 9999, khối lượng 03 chỉ; 01 mặt dây vàng 9999, hình trái tim, khối lượng 0,5 chỉ; 01 đôi hoa tai vàng 9999, hình tròn, khối lượng 01 chỉ và 02 nhẫn trơn vàng 9999, khối lượng 1,5 chỉ, do Nguyễn Văn T đã bán cho các cửa hàng trang sức và được nấu chảy thành phôi và chế tác thành trang sức bán lại cho người khác nên không thu hồi được.

Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen và chiếc La-via, do Nguyễn Văn T đã vứt đi; còn chiếc huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, khối lượng 1,2 chỉ và 01 chiếc nhẫn trơn bằng vàng 9999, khối lượng 01 chỉ, do bị rơi mất, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã truy tìm nhưng không có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 30.000.000đồng và bồi thường cho chị Phùng Thị Thúy V 30.000.000đồng theo yêu cầu của các bị hại. Đối với ông Nguyễn Tiến K và anh Trần Văn L3, đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường. Đối với số tiền 3.500.000đồng mà chị Lê Thị H2 đã mua máy tính xách tay hiệu Dell do Nguyễn Văn Trọng phạm T2 mà có, chị H2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 61/CT -VKS-TXKA ngày 11/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng Điểm c, Điểm g, khoản 2, Điều 173 ; Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điểm a, Khoản 1, Điều 46; Điểm a,b, K, Khoản 2, Điêuì 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Khoản 2; Điểm b, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp là ngày 02/7/2024; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tại Nguyễn Văn T số tiền 3.500.000đồng do thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01(một) túi đựng máy tính, bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng; 03(ba) chiếc cờ lê kích thước: 22mm, 24mm và 32mm,bằng kim loại màu sáng trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) tuýp mở ốc kích thước 17mm, dài 25cm bằng kim loại màu sang trắng, trên bề mặt có in chữ KOURITSU 17mm Cr-V Japan; 01(một) bộ lục giác mở ốc, vỏ bên ngoài bằng nhựa, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01(một) tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 30cm, phần tay cầm làm bằng cao su màu đen-vàng cam, đã qua sử dụng; 01(một) két sắt hiệu Việt-Tiệp, size 45, màu xanh xám, sản xuất năm 2014, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do bị cạy phá; 01(một) áo khoác bằng vải bò, màu xàm đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu VINA STAR, màu xanh dương, sọc đen trắng ở giữa, hai bên mũ có in hình ngôi sao năm cánh màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu BK TEK, màu đỏ bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01(một) đôi dép nhãn hiệu Sport, bằng nhựa, màu xanh dương đã qua sử dụng. Trả cho chị Đặng Thị H 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Surius, màu đen-đỏ, số khung RLCS5C640AY344560, số máy 5C64-344560, BKS: 38K1-00361 đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian kể từ ngày 18/6/2024 đến ngày 02/7/2024, Nguyễn Văn T mang theo bộ dụng cụ phá khóa và sử dụng xe mô tô BKS: 38K1-003.61(xe mượn của chị Đặng Thị H trước đó để làm phương tiện đi lại) đi đến các nhà dân ở phường K và phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để phá khóa cửa đột nhập vào nhà thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, với tổng trị giá là 98.145.000đồng, trong đó: Ngày 18/6/2024, Nguyễn Văn T trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thanh T1, ở tổ dân phố Đ, phường K: 01 chiếc điện thoại iphone 8; 01 dây chuyền vàng, có mặt dây hình hoa in hình cánh hoa bằng vàng 18K, khối lượng 02 chỉ; 01 đôi bông tai bằng vàng 18K, có đính ngọc trắng hình tròn; 01 cái huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, hình đồng xu, khối lượng 1,2 chỉ; số tiền 10.000.000đ; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu HP và số tiền 3.200.000đ trong con lợn tiết kiệm, với tổng trị giá tài sản là 45.805.000đ. Ngày 25/6/2024, Nguyễn Văn T trộm cắp của chị Phùng Thị Thúy V, ở tổ dân phố Q, phường K: 01 chiếc điện thoại iphone 6s, màu xám; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen và 350.000đ tiền mặt trong con lợn tiết kiệm; 01 dây chuyền vàng 9999, khối lượng 03 chỉ; 01 mặt dây vàng 9999, hình trái tim, khối lượng 0,5 chỉ; 01 đôi hoa tai bằng vàng 9999, hình tròn, khối lượng 01 chỉ và 02 nhẫn vàng 9999, khối lượng 1,5 chỉ; với tổng trị giá tài sản là 46.850.000đồng; đồng thời đập phá két sắt của chị Phùng Thị Thúy V, gây thiệt hại 352.500đ; Ngày 02/7/2024, Nguyễn Văn T trộm cắp của ông Nguyễn Tiến K ở tổ dân phố Đ, phường K: 01 chiếc máy tính xách tay hiệu D2, trị giá 5.400.000đ, trong khi đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị phát hiện. Ngoài ra, ngày 28/6/2024, Nguyễn Văn T trộm cắp của anh Trần Văn L3, ở tổ dân phố N, phường K 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, trị giá 90.000đồng, tuy hành vi không cấu thành tội phạm nhưng được xem xét khi lượng hình.

Tổng gía trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp là 98.145.000đ; Nguyễn Văn T đưa đi bán tài sản trộm cắp được 46.515.000đ, cùng với 13.550.000đ tiền mặt trộm cắp được; tổng cộng được 60.065.000đ, bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điểm c, Điểm g, Khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ lối sống buông thả, lười lao động nhưng thích hưởng thụ, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các bị hại, nhiều lần đột nhập chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Phạm tội 02 lần trở lên, theo quy định tại Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, nên cần xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, đang có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vừa chấp hành xong bản án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải về những hành vi vi phạm pháp luật mà bản thân đã gây ra, tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với chị Đặng Thị H đã cho Nguyễn Văn T mượn xe mô tô để đi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng khi cho mượn xe chị H không biết Nguyễn Văn T mượn xe đi thực hiện hành vi trộm cắp nên không phải chịu trách nhiệm hình sự; Đối với các chị Kiều Thị Thu H1, Lê Thị H2, Nguyễn Thị P đã mua tài sản Nguyễn Văn T trộm cắp mà có và em H3 Nguyễn Vinh Q được Nguyễn Văn T cho mượn tài sản trộm cắp, nhưng họ đều không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi cạy phá két sắt của chị Phùng Thị Thúy V, gây thiệt hại 352.500đ, hành vi không cấu thành tội phạm, Công an thị xã K đã xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 4.000.000đồng).

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thanh T1 và chị Phùng Thị Thúy V yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường thiệt hại cụ thể: bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 30.000.000đồng và bồi thường cho chị Phùng Thị Thúy V 30.000.000đồng. Nguyễn Văn T đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của các bị hại. Đối với ông Nguyễn Tiến K và anh Trần Văn L3, đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường. Đối với số tiền 3.500.000đồng mà chị Lê Thị H2 đã mua máy tính xách tay hiệu Dell do Nguyễn Văn Trọng phạm T2 mà có, chị H2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 3.500.000đồng do bán tài sản trộm cắp cho chị Lê Thị H2 mà có, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị H2 không yêu cầu trả lại, đây là khoản tiền thu lợi bất chính của bị cáo do phạm tội mà có. Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm b, Khoản 2,Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước

[8]. Về vật chứng:

- Đối với các vật chứng: 01(một) túi đựng máy tính, bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng; 03(ba) chiếc cờ lê kích thước: 22mm, 24mm và 32mm,bằng kim loại màu sáng trắng, đã qua sử dụng; 01(một) tuýp mở ốc kích thước 17mm, dài 25cm bằng kim loại màu sang trắng, trên bề mặt có in chữ KOURITSU 17mm Cr-V Japan; 01(một) bộ lục giác mở ốc, vỏ bên ngoài bằng nhựa, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01(một) tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 30cm, phần tay cầm làm bằng cao su màu đen-vàng cam, đã qua sử dụng; 01(một) két sắt hiệu Việt-Tiệp, size 45, màu xanh xám, sản xuất năm 2014, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do bị cạy phá; 01(một) áo khoác bằng vải bò, màu xám đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu VINA STAR, màu xanh dương, sọc đen trắng ở giữa, hai bên mũ có in hình ngôi sao năm cánh màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu BK TEK, màu đỏ bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01(một) đôi dép nhãn hiệu Sport, bằng nhựa, màu xanh dương đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội cùng các vật chứng không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Surius, màu đen-đỏ, số khung RLCS5C640AY344560, số máy 5C64-344560, BKS: 38K1-00361, thuộc quyền sở hữu của chị Đặng Thị H đã cho bị cáo Trọng mượn làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nhưng khi cho mượn chị H không biết bị cáo dung đi thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho chị Đặng Thị H.

- Đối với các vật chứng: 01(một) chiếc điện thoại di động hiệu 6s, màu xám, mã máy MN02M2LLA, dung lượng 32GB, số imei: 355685072136277, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn Nokia 1280, màu đen, số IMEI 352832051602761, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu vàng hồng, mã máy MQ7A2J/A, dung lượng 64GB, số imei: 352996090002422, màn hình có nhiều vết nứt, đã qua sử dụng; 01(một) máy tính xách tay hiệu HP 240G8, màu bạc Chip intel Core i5 T, Ram H, ổ cứng 512GB, màn hình 14 inch, sản xuất năm 2022, đã qua sử dụng; 01(một) máy tính Dell Vostro 3405, màu đen, chip ADM.Ryzen5 3500U.2.10GHZ, Ram 8GB, ổ cứng 512 GB, màn hình 14inch, sản xuất năm 2020, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị hại đảm bảo trình tự thủ tục quy định nên không xem xét.

- Đối với 01 dây chuyền vàng, có mặt dây hình hoa in hình cánh hoa bằng vàng 18K, khối lượng 02 chỉ; 01 đôi bông tai bằng vàng 18K, có đính ngọc trắng hình tròn; 01 cái huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, hình đồng xu, khối lượng 1,2 chỉ; 01 dây chuyền vàng 9999, khối lượng 03 chỉ; 01 mặt dây vàng 9999, hình trái tim, khối lượng 0,5 chỉ; 01 đôi hoa tai vàng 9999, hình tròn, khối lượng 01 chỉ và 02 nhẫn trơn vàng 9999, khối lượng 1,5 chỉ, do Nguyễn Văn T đã bán cho các cửa hàng trang sức và được nấu chảy thành phôi và chế tác thành trang sức bán lại cho người khác nên không thu hồi được nên không xem xét.

- Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen và chiếc La-via, do Nguyễn Văn T đã vứt đi; còn chiếc huy hiệu Công ty F bằng vàng 9999, khối lượng 1,2 chỉ và 01 chiếc nhẫn trơn bằng vàng 9999, khối lượng 01 chỉ, do bị rơi mất, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã truy tìm nhưng không có kết quả nên không xem xét.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định .

[10]. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c, Điểm g, Khoản 2, Điều 173; Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 46; Điểm a, b Khoản 1, Khoản 2, Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Đ a, b, c, Khoản 2, Điểm b, Khoản 3, Điều 106, Điều 136, Điều 299, 326, 329, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, Khoản 1, Điều 21; Điểm a, Khoản 1, Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt:

    - Xử phạt Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp là ngày 02/7/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

  3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tại Nguyễn Văn T số tiền 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy: 01(một) túi đựng máy tính, bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng; 03 (ba) chiếc cờ lê kích thước: 22mm, 24mm và 32mm,bằng kim loại màu sáng trắng, đã qua sử dụng; 01(một) tuýp mở ốc kích thước 17mm, dài 25cm bằng kim loại màu sang trắng, trên bề mặt có in chữ KOURITSU 17mm Cr-V Japan; 01(một) bộ lục giác mở ốc, vỏ bên ngoài bằng nhựa, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01(một) tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 30cm, phần tay cầm làm bằng cao su màu đen-vàng cam, đã qua sử dụng; 01(một) két sắt hiệu Việt-Tiệp, size 45, màu xanh xám, sản xuất năm 2014, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do bị cạy phá; 01(một) áo khoác bằng vải bò, màu xám đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu VINA STAR, màu xanh dương, sọc đen trắng ở giữa, hai bên mũ có in hình ngôi sao năm cánh màu trắng, đã qua sử dụng; 01(một) mũ bảo hiểm nhãn hiệu BK TEK, màu đỏ bằng nhựa, đã qua sử dụng; 01(một) đôi dép nhãn hiệu Sport, bằng nhựa, màu xanh dương đã qua sử dụng

    - Trả cho chị Đặng Thị H: 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Surius, màu đen-đỏ, số khung RLCS5C640AY344560, số máy 5C64-344560, BKS: 38K1-00361, đã qua sử dụng;

    (Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã K với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh).

  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 62
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger