Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62 /2024/HSST

Ngày: 17 - 7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Viết Ngoan
  • 2. Bà Trần Thúy Kiên

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ và điểm cầu thành phần là Cơ quan tạm giữ, tạm giam Công an quận T, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Quốc T, sinh năm 1997; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Dương Văn T1, sinh năm 1978 (sống); Họ tên mẹ: Trần Thị Mộng N, sinh năm 1974 (sống); Con có 01 người, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay tại Cơ quan tạm giữ tạm giam - Công an quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Nguyễn Anh T2 – sinh năm 1996, thuộc Văn phòng Luật sư Phạm Khắc P - Đoàn Luật sư thành phố C. Có mặt.

Bị hại: Bà Ngô Thị Thanh N1 - sinh năm 1988. Vắng mặt

Nơi cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..

Người làm chứng:

  • - Ông Lê Văn P1 – sinh năm 1966. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..
  • - Anh Đặng Thành T3 – sinh năm 1990. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Khu vực Q, P. T, Q. T, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, nên vào khoảng 19 giờ ngày 01/02/2024, Dương Quốc T đi bộ đường mé sông đối diện Chùa V thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến nhà bà Ngô Thị Thanh N1 tại khu V, phường T, quận T, phát hiện nhà không có người trông coi, nên ý định vào nhà trộm cắp tài sản. T đột nhập vào nhà của bà N1 qua cửa sổ thông gió nhà tắm. Vfao được bên trong nhà, T lấy trộm được các tài sản sau đây: 45 đô la tiền đô la Mỹ, 01 chai nước hoa nhãn hiệu Versace, tiền việt nam 800.000 đồng, 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, hình dạng lật có đính đá trắng; 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn; 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá. Tất cả tài sản được bỏ vào trong một cái túi ni lon màu đen.

Lúc này, anh Đặng Thành T3 (em họ của bà N1) phát hiện có người đột nhập vào nhà bà N1 nên trình báo cho Công an phường T. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường T đến nhà bà N1 bắt quả tang T đang cầm theo túi tài sản lẩn trốn ở sân sau nhà bà N1.

Tang vật và đồ vật thu giữ gồm:

  • + Tiền Việt Nam: 800.000 đồng ( tám trăm nghìn đồng).
  • + Tiền Đ Mỹ: 45 đô la.
  • + 01 (một) chai nước hoa bằng thuỷ tinh, nắp bạc, không xác định dung tích.
  • + 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng, loại vàng 15,61 karat trọng lượng 0,28 chỉ;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa, loại vàng 16,12 karat trọng lượng 1,26 chỉ;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa, loại vàng 15,87 karat trọng lượng 1,42 chỉ;
  • + 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, hình dạng lật có đính đá trắng, loại vàng 16,17 karat trọng lượng 0,5 chỉ;
  • + 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn loại vàng 16,44 karat trọng lượng 0,19 chỉ;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá là vàng giả.
  • + 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn
  • + 01 (một) quần thun màu đen viền vàng, logo hình tròn có 03 màu đỏ, trắng, xanh bên ống phải.

Bản kết luận định giá tài sản số 09/BKL-HĐĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, kết luận:

  • + 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng, bằng kim loại vàng 15,61 karat, trọng lượng 0,28 chỉ giá 1.022.000 đồng;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa, bằng kim loại vàng 16,12 karat, trọng lượng 1,26 chỉ giá 5.103.000 đồng;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính một viên đá màu trắng ở giữa, bằng kim loại vàng 15,87 karat, trọng lượng 1,42 chỉ giá 5.183.000 đồng;
  • + 01 (một) đôi bông tai có hình dạng lật, có đính đá trắng, bằng kim loại vàng 16,17 karat trọng lượng 0,5 chỉ giá 1.025.000 đồng;
  • + 01 (một) chiếc bông tai có hình dạng hoạ tiết tròn kim loại vàng 16,44 karat, trọng lượng 0,19 chỉ giá 769.500 đồng;

Theo Kết luận định giá tài sản số 09/BKL-HĐĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tfai sản Ủy ban nhân dân quận T kết luận: Tổng giá trị của tài sản là 13.102.500 đồng (mười ba triệu, một trăm lẻ hai ngàn, năm trăm đồng).

Tại Biên bản họp số 16/2024/BB-HĐĐGTS ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T ý kiến: 01 (một) chai nước hoa bằng thuỷ tinh, nắp chai màu bạc, bên trong có dung dịch màu xanh không xác định thể tích không có hóa đơn, giấy tờ, không xác định được giá trị ban đầu của tài sản nên Hội đồng không đủ cơ sở để tiến hành khảo sát giá.

Biên bản xác định tỷ giá đồng đô la Mỹ và tiền Việt Nam tại Ngân hàng N2. Chi nhánh quận T:

  • + Giá mua vào: 24.255 đồng/01 USD, tổng số 45 USD được mua vào có giá là: 1.091.475 đồng Việt Nam đồng;
  • + Giá bán ra: 24.575 đồng/01 USD, tổng số 45 USD được bán ra có giá trị là 1.105.875 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành tạm giữ theo quy định và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại bà Ngô Thị Thanh N1 45 đô la tiền đô la Mỹ, 01 chai nước hoa nhãn hiệu Versace, tiền việt nam 800.000 đồng, 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, hình dạng lật có đính đá trắng; 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn; 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá.

Bà Ngô Thị Thanh N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSTN ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, truy tố bị cáo Dương Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • + Xử phạt bị cáo Dương Quốc T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
  • + Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

  • + Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại bà Ngô Thị Thanh N1 các tài sản bị mất trộm gồm: 45 đô la tiền đô la Mỹ, 01 chai

nước hoa nhãn hiệu Versace, tiền việt nam 800.000 đồng, 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, hình dạng lật có đính đá trắng; 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn; 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

  • + Tịch thu tiêu hủy của bị cáo 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn; 01 (một) quần thun màu đen viền vàng, logo hình tròn do không giá trị sử dụng.

* Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Không có ý kiến gì về tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; không có ý kiến gì về trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, thấy nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức án thấp nhất.

* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 01/02/2024, Dương Quốc T đã lén lút lấy trộm tài sản của bà Ngô Thị Thanh N1 với mục đích có tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản mà bị cáo lấy trộm là: 45 đô la Mỹ, 01 chai nước hoa nhãn hiệu Versace, tiền việt nam 800.000 đồng, 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, hình dạng lật có đính đá trắng; 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn; 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định tổng giá trị tài sản là 14.193.975 đồng.

Hành vi mà Dương Quốc T thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài

sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Dương Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có khả năng lao động để tạo ra thu nhập chính đáng phục vụ cuộc sống, nhưng do lòng tham nên đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác để nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, con còn nhỏ tuổi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phân hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát nhận định và đề nghị là phù hợp; nên chấp nhận.

[6] Đối với trường hợp Dương Quốc T khai cùng với Đàm Chúng B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Ngô Thị Thanh N1. Tuy nhiên ngoài lời khai của T ra, Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ nào khác đủ cơ sở xác định Đàm Chúng B đã cùng với Dương Quốc T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên. Do đó, chưa có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đàm Chúng B. Nếu khi nào có tình tiết mới và có đủ cơ sở thì xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • + Xử phạt bị cáo Dương Quốc T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.
  • + Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • + Công nhận Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại bà Ngô Thị Thanh N1 các tài sản bị lấy trộm gồm: 45 đô la tiền đô la Mỹ, 01 chai nước hoa nhãn hiệu Versace, tiền việt nam 800.000 đồng, 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hình dạng hai chữ C, có đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng đính nhiều hạt đá màu trắng nhỏ và một viên đá màu trắng to ở giữa; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng trơn, có đính một viên đá ở giữa; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu

vàng, hình dạng lật có đính đá trắng; 01 (một) chiếc bông tai kim loại màu vàng, hoạ tiết hình tròn; 01 (một) nhẫn kim loại mặt nhẫn hình số 08 vòng tròn kết đá. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn; 01 (một) quần thun màu đen viền vàng, logo hình tròn.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q.Thốt Nốt;
  • - Công an Q.Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt;
  • - Bị cáo...;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Quốc T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger