1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HSST Ngày: 15-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân:Ông Võ Trường Tam
Ông Đặng Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/Họ và tên: Võ Thành D, sinh ngày: 17/11/1987.
Nơi thường trú: ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện tại: 1 N, phường B, Quận G, Tp .; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn H (đã chết) và bà Diệp Thị Đ; Bản thân có vợ tên Nguyễn Hoàng Yến T, có 01 con, sinh năm 2008; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 24/2011/HSST, ngày 11/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và Bản án số 60/2011/HSPT, ngày 12/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/8/2013. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Thạch T1, sinh ngày: 01/01/1994.
Nơi thường trú: ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch Q và bà Sơn Thị M; Bản thân có vợ tên Võ Thị Minh T2 (đã ly hôn), có 01 con, sinh
năm 2016; Tiền án - tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3/Họ và tên: Thạch Ngọc Q1, sinh ngày: 14/5/1993.
Tên gọi khác: H1.
Nơi thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện tại: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch S và bà Lâm Thị Đ1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án - tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4/Họ và tên: Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 06/11/1989.
Tên gọi khác: T3.
Nơi thường trú: 47/1A Ấp F, xã P, huyện N, Tp .; Nghề nghiệp: bảo vệ; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh M1 và bà Nguyễn Thị Thúy H2; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án- tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5/Họ và tên: Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày: 31/3/1985.
Nơi thường trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: bảo vệ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P1 và bà Nguyễn Thị Thanh N; Bản thân có vợ tên Lê Thị Mộng K, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án- tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty cổ phần Đ2.
Địa chỉ: I P, Phường E, quận P, Tp ..
Có người đại diện theo ủy quyền ông: Lê Anh T4, sinh năm: 1977 (vắng mặt).
Cư trú: 1 B, Khu phố B, phường T, Quận G, Tp ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Hoàng Thị L, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
Cư trú: Số D N, Ấp E, xã P, huyện N, Tp .
2/ Trần Viết T5, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Cư trú: thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
3/ Lê Vũ K1, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Cư trú: Xóm Hồ, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Người làm chứng: Dương Văn T6, sinh năm: 1983 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp A, xã L, huyện N, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ, ngày 10/4/2024 Thạch T1 gặp Võ Thành D, là an toàn viên của công trình thuộc dự án khu biệt thự, chung cư cao cấp Thái Sơn L, tại 01 quán nước giải khát, ở Ấp D, xã L, huyện C. Tại đây, T1 nói với D tối nay cho T1 vào công trình, tọa lạc: Ấp D, xã L, huyện C, lấy trộm tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, D đồng ý. Tới dùng điện thoại di động liên lạc rủ Thạch Ngọc Q1 cùng tham gia, Q1 đồng ý và T1 nhắn Q1 rủ thêm người. Q1 liên lạc rủ người bạn tên L1 (không rõ lai lịch) cùng tham gia trộm tài sản, L1 đồng ý. Sau đó, L1 và Q1 tìm thuê được 01 xe ô tô tải (không rõ biển số) của đối tượng nữ tên D2 (không rõ lai lịch) do anh Dương Văn T7 làm tài xế. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, đến ca trực bảo vệ của Nguyễn Hoàng P (trực cổng số 3 mục tiêu cố định) và Nguyễn Hoàng D1 (trực mục tiêu di động). Dững gặp P và D1 nói tối nay có xe Tới thuê đến lấy trộm tài sản bán chia nhau tiêu xài, P và D1 đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T7 điều khiển xe ô tô tải đến nhà trọ rước Q1 và L1 rồi chạy xe đến trước cổng công trình chờ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 11/4/2024 P đi ra mở cửa cổng số 3 và xoay camera an ninh sang hướng khác, D thông báo cho T1 cho xe vào công trình. Lúc này, T7 điều khiển xe ô tô chở T1, Q1, L1 chạy xe vào nơi tập kết vật tư trong công trình. Trắng ngồi trên cabin xe, T1, Q1 và L1 lén lút lấy trộm: 96 chân giàn giáo, 04 mâm giàn giáo, 05 thang giàn giáo, 162 kích U kim loại và 223 cùm xoay kim loại bỏ lên thùng xe. Đây là tài sản của Công ty cổ phần Đ2. Sau khi lấy trộm tài sản, T1, Q1, L1 và P đem tài sản trộm đến vựa ve chai ở Ấp E, xã P, huyện N, Tp ., do chị Hoàng Thị L làm chủ, bán được 19.000.000 đồng. Tới giữ 9.500.000 đồng, chia cho Q1 1.000.000 đồng và đưa cho Q1 1.500.000 đồng trả tiên thuê xe, chia cho Lép 1.500.000 đồng. Tới chia lại cho D 9.500.000 đồng. Sau đó, D chia cho P 2.500.000 đồng, D1 2.500.000 đồng. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời Dững, P, D1, T1 và Q1 về làm việc, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS ngày 13/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 96 (chín mươi sáu) chân giàn giáo kim loại, hình chữ H, kích thước 1,7m x 1,25m, trọng lượng 12,8kg/cái, trị giá 26.560.000 đồng; 04 (bốn) mâm giàn giáo kim loại, kích thước 1,6m x 0,35m, trọng lượng 11kg/cái, trị giá 1.227.000 đồng; 05 (năm) thang giàn giáo kim loại, kích thước 2,4m x 0,45m, trọng lượng 21kg/cái, trị giá 2.583.000 đồng; 162 (một trăm sáu mươi hai) kích U kim loại, dài 0,5m, phi 34 rỗng 4mm, trọng lượng 1,5kg/cái, trị giá 8.694.000 đồng và 223 (hai trăm hai mươi ba) cùm xoay kim loại, trọng lượng
0,65kg/cái, trị giá 3.419.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 42.483.000 đồng (bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ba ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 62/CT-VKSCG ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố năm bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Võ Thành D từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Thạch Tới từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Thạch Ngọc Q1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Hoàng P từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Hoàng D1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với năm bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tang vật:
Tịch thu tiêu hủy: các thẻ sim điện thoại di động mang số: sim số 0937231852; sim số 0355332484; sim số 0936252480; sim số 0907944723 và sim số 0901474162.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A52, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Readmi 6Pro, màu đỏ đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3, màu đen.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại 96 chân giàn giáo, 04 mâm giàn giáo, 05 thang giàn giáo, 162 kích U và 223 cùm xoay
kim loại và hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị L số tiền 18.000.000 đông do năm bị cáo giao nộp khắc phục hậu quả, là phù hợp.
Về dân sự: Đại diện bị hại anh Lê Anh T4 đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Thị L đã nhận số tiền 18.000.000 đồng do năm bị cáo bồi thường và cũng không yêu cầu bồi thường thêm, đề nghị không xem xét.
Năm bị cáo có mặt không có ý kiến tranh luận.
Năm bị cáo nói lời sau cùng là nhìn nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa năm bị cáo Võ Thành D, Thạch T1, Thạch Ngọc Q1, Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Hoàng D1 thống nhất khai nhận: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, tại công trình xây dựng thuộc dự án khu biệt thự, chung cư cao cấp Thái Sơn L do Công ty Đ2 cung cấp vật tư thiết bị, thuộc Ấp D, xã L, huyện C, bị cáo D, T1, Q1, P và D1 thống nhất ý chí, cùng nhau lén lút lấy trộm 96 chân giàn giáo, 04 mâm giàn giáo, 05 thang giàn giáo, 162 kích U và 223 cùm xoay kim loại là tài sản của Công ty Đ2. Theo Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS ngày 13/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: tổng giá trị tài sản năm bị cáo chiếm đoạt trị giá là 42.483.000 đồng (bốn mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ba ngàn đồng). Xét thấy giá trị tài sản năm bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 42.483.000 đồng, tức trên 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Do đó hành vi phạm tội của năm bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội, năm bị cáo không có thỏa thuận trước số tiền hưởng lợi của từng bị cáo và không có tổ chức, phân công, cấu kết chặt chẽ là đồng phạm giản đơn, nên không xem xét đến tình tiết định khung hình phạt là phạm tội có tổ chức theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của năm bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Năm bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của năm bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Trong vụ án cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của năm bị cáo khi lượng hình:
[4.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với năm bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[4.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với năm bị cáo: cả năm bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa năm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1, Q1, P và D1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tài sản đã thu hồi hoàn trả cho bị hại, nên năm bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D1 có ông ngoại tên Nguyễn Văn B là thương binh hạng 4/4, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo D1 và P có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của năm bị cáo: cả năm bị cáo đều thống nhất ý chí trong việc thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Bị cáo D với vị trí làm việc là an toàn viên của công trình đã thỏa thuận với hai bị cáo P và D1 là bảo vệ công trình để tạo điều kiện cho bị cáo T1, Q1 và đối tượng tên L1 vào công trình lấy trộm tài sản và thỏa thuận với bị cáo T1 để thực hiện hành vi trộm cắp, là người trực tiếp chia tiền cho bị cáo P và D1. Bị cáo T1 là người đề xuất việc lấy trộm tài sản với bị cáo D, là người rủ rê bị cáo Q1 cùng thực hiện hành vi phạm tội, là người trực tiếp lấy trộm, bán tài sản và chia tiền. Bị cáo Q1 là người rủ rê đối tượng L1 và thuê xe để vận chuyển tài sản trộm cắp và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P là bảo vệ trực mục tiêu cố định có hành vi giúp sức là đã mở cửa cổng, xoay hướng camera an ninh để bị cáo T1, Q1 và đối tượng trên Lép cho xe ô tô tải vào công trình trộm tài sản và tẩu thoát và đi cùng với bị cáo T1, Q1 bán tài sản. Bị cáo D1 là bảo vệ trực mục tiêu di động của công trình có hành vi giúp sức là đi tuần tra ở khu vực khác để tạo điều kiện cho các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi bán tài sản thì
bị cáo D hưởng lợi 4.500.000 đồng, bị cáo P và D1 cùng hưởng lợi mỗi người 2.500.000 đồng, bị cáo T1 hưởng lợi 5.500.000 đồng, bị cáo Q1 hưởng lợi 1.500.000 đồng. Xét về nhân thân, bị cáo T1, Q1, P và D1 có nhân thân tốt, bị cáo D vào năm 2011 đã bị tòa án xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
[5] Với những phân tích trên, thì hình phạt dành cho bị cáo D và T1 là bằng nhau và cao nhất, kế đến là bị cáo Q1, bị cáo P và D1 là bằng nhau. Xét thấy cần cách ly bốn bị cáo D, T1, Q1 và P ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy, trong vụ án bị cáo D1 có vai trò mờ nhạt (giúp sức không hành động), phạm tội có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đã phân tích tại phần [4.2] và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt. Đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018, được sửa đổi bổ sung theo nội dung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì xét thấy không cần cách ly, cho bị cáo D1 hưởng án treo cũng có thể tự cải tạo trở thành người có ích cho xã hội và việc cho hưởng án treo đối với bị cáo D1 cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[6] Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với năm bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với đối tượng tên L1 theo bị cáo T1 và Q1 khai nhận là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với các bị cáo. Qua điều tra, chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ. Đối với Hoàng Thị L là người mua tài sản của các bị cáo bán nhưng qua điều tra chị L không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Đối với Dương Văn T7 là người điều khiển xe chở các bị cáo đi trộm tài sản nhưng qua điều tra anh T7 không có thỏa thuận và cũng không biết đây là tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
[8] Về tang vật thu giữ: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý như sau:
[8.1] Đối với các thẻ sim điện thoại di động: sim số 0937231852 của bị cáo D; sim số 0355332484 của bị cáo D1; sim số 0936252480 của bị cáo P; sim số 0907944723 của bị cáo T1 và sim số 0901474162 của bị cáo Q1, đây là các thẻ sim điện thoại năm bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
[8.2] Đối với các điện thoại di động: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A52, màu đen của bị cáo D; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9, màu đen của bị cáo D1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Readmi 6Pro, màu đỏ đen của bị cáo P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu xanh đen của bị cáo T1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3, màu đen của bị cáo Q1, đây là các điện thoại năm bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[8.3] Đối với 96 chân giàn giáo, 04 mâm giàn giáo, 05 thang giàn giáo, 162 kích U và 223 cùm xoay kim loại. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Công ty cổ phần Đ2 do anh Lê Anh T4 là người đại diện theo ủy quyền nhận, là phù hợp.
[8.4] Đối với số tiền 18.000.000 đồng thu giữ của năm bị cáo, cụ thể: bị cáo D số tiền 5.000.000 đồng; bị cáo D1 số tiền 3.000.000 đồng; bị cáo P số tiền 3.000.000 đồng; bị cáo T1 số tiền 6.000.000 đồng và bị cáo Q1 số tiền 1.000.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho chị Hoàng thị L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại anh Lê Anh T4 đã nhận lại tài sản bị mất, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 111 và số 231) không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Thị L đã nhận số tiền 18.000.000 đồng do năm bị cáo giao nộp, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 235-237) không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
[10] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Võ Thành D, Thạch T1, Thạch Ngọc Q1, Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Hoàng D1 cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Thành D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Thạch Tới 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Thạch Ngọc Q1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Thành D, T, Thạch Ngọc Q1, Nguyễn Hoàng P 45 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng D1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (15/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng D1 về cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tang vật:
Tịch thu tiêu hủy: các thẻ sim điện thoại di động mang số: sim số 0937231852; sim số 0355332484; sim số 0936252480; sim số 0907944723 và sim số 0901474162.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A52, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Readmi 6Pro, màu đỏ đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu xanh đen,và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3, màu đen.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 43/QĐ-VKSCG, ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo Võ Thành D, Thạch T1, Thạch Ngọc Q1, Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Hoàng D1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 15 tháng 8 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 8 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trương Tam .
Ông Đặng Văn Vững.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS, ngày 30/7/2024 đối với bị cáo: Võ Thành Dững và đồng phạm.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Dững, Thạch Tới, Thạch Ngọc Quyên, Nguyễn Hoàng Phúc và Nguyễn Hoàng Dũ cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Đối với bị cáo Võ Thành Dững: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Thạch Tới: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Thạch Ngọc Quyên: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Phúc: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Dũ: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Võ Thành Dững 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Xử phạt: Thạch Tới 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024
Xử phạt: Thạch Ngọc Quyên 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng Phúc 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Thành Dững, Thạch Tới, Thạch Ngọc Quyên, Nguyễn Hoàng Phúc 45 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng Dũ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (15/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Dũ về cho Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tang vật:
Tịch thu tiêu hủy: các thẻ sim điện thoại di động mang số: sim số 0937231852; sim số 0355332484; sim số 0936252480; sim số 0907944723 và sim số 0901474162.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A9, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Readmi 6Pro, màu đỏ đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A58, màu xanh đen,và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 3, màu đen.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 43/QĐ-VKSCG, ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo Võ Thành Dững, Thạch Tới, Thạch Ngọc Quyên, Nguyễn Hoàng Phúc và Nguyễn Hoàng Dũ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 30 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA |
|
VÕ TRƯỜNG TAM – ĐẶNG VĂN VỮNG |
NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 62/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 62/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thanh D và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản"
