Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày 29-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Văn Cường;

Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Trọng H, sinh ngày 19-5-1984, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1962 và bà Đào Thị Đ, sinh năm 1963; có vợ Nguyễn Thị Lệ Q, sinh năm 1985 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 102/2006/HSPT ngày 20/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2007/HSST ngày 20/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 10-4-2023 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Nguyễn T, sinh ngày 01-01-1980, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K, sinh năm 1944 và bà Phan Thị H1, sinh năm 1950; có vợ Lê Thị N và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2005/HS-ST ngày 24-01-2005 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 10-4-2023 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  3. Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 01-01-1984, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 và bà Mang Thị C1, sinh năm 1961; có vợ Phan Thị L, sinh năm 1992 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Quyết định số 170/QĐ-XPHC ngày 19-7-2013 của Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi dùng nhà của mình hoặc địa điểm khác để chứa bạc, gá bạc; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 10-4-2023 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn Hoàng C:

Luật sư Trần Văn T2, Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo: Đinh Thị Thu H2, Lê Thị Hoa Trần Thanh H3, Lê Văn G, Biện Văn T3, Trần Công L1, Lê Văn T4, Võ Ngọc T5, Đinh Tuấn D1, Lê Văn S, Nguyễn Hoàng L2, Phạm Văn P, Võ Văn T6, Lê Văn L3, Nguyễn Đình C2 không có kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đinh Thị Thu H2 buôn bán quán nước tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vào Tết Nguyên đán năm 2023, H2 không bán nước nên Lê Thị H4 đề nghị bán những ngày tết và được H2 đồng ý. Ngày 20-01-2023, H2 gọi điện thoại cho H4 nói mua bài để bán cho khách đến uống nước chơi, H4 mua 10 bộ bài với giá 70.000 đồng và cất giữ tại quán nước. Khoảng 09 giờ ngày 21-01-2023, khi đang bán nước thì có một số người khách hỏi mua bài để chơi trong quán; thì H4 và H2 thay nhau bán nước, bán bài cho người chơi với giá 20.000 đồng/bộ bài; quy định đánh bạc hình thức bài sắc tê, không quy định số tiền đặt cược. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21-01-2023, Công an xã T, huyện T kiểm tra, phát hiện tại quán nước của Lê Thị H4 và Đinh Thị Thu H2 có 16 đối tượng chia thành ba chiếu bạc có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài sắc tê; cụ thể như sau:

Sòng bạc thứ nhất: Nguyễn Trọng H sử dụng số tiền 16.000.000 đồng; Nguyễn T sử dụng sử dụng số tiền 5.900.000 đồng; Nguyễn Hoàng C sử dụng số tiền 4.440.000 đồng; Trần Công L1 sử dụng số tiền 1.600.000 đồng; Lê Văn S sử dụng số tiền 300.000 đồng; tham gia đánh bạc cùng nhau; số tiền sử dụng đánh bạc được xác định là 28.240.000 đồng; thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.710.000 đồng.

Sòng bạc thứ hai: Lê Văn G sử dụng số tiền 3.894.000 đồng; Biện Văn T3 sử dụng số tiền 3.190.000 đồng; Đinh Tuấn D1 sử dụng số tiền 350.000 đồng; Nguyễn Hoàng L2 sử dụng số tiền 300.000 đồng; Nguyễn Đình C2 sử dụng số tiền 150.000 đồng; tham gia đánh bạc cùng nhau; số tiền sử dụng đánh bạc được xác định là 7.884.000 đồng, trong đó, số tiền sử dụng đánh bạc.

Sòng bạc thứ ba: Trần Thanh H3 sử dụng số tiền 6.570.000 đồng; Lê Văn T4 sử dụng số tiền 500.000 đồng; Võ Ngọc T5 sử dụng số tiền 490.000 đồng; Phạm Văn P sử dụng số tiền 250.000 đồng; Võ Văn T6 sử dụng số tiền 200.000 đồng; Lê Văn L3 sử dụng số tiền 180.000 đồng; tham gia đánh bạc cùng nhau; số tiền sử dụng đánh bạc được xác định là 8.190.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 03 bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng); Tiền Việt Nam 44.769.000 đồng thu giữ trực tiếp tại các chiếu bạc và trong người các bị cáo; đã được kiểm tra thật giả. Đồng thời, thu giữ tài sản của các bị cáo, cụ thể như sau:

  • Nguyễn Trai: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh số imel 869945060452394.
  • Nguyễn Hoàng C: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu đen số imel 863516059970997.
  • Nguyễn Trọng H: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh số imel 867406043535575 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ-đen biển số 70K1-526.75 số máy JA38E0433380, số khung RLHJA3819TY015261.
  • Trần Công L1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus số imel 356570085980789 và 01 xe mô tô không biển số, không dàn áo số máy VKVYP52EMHD800710, số khung không có.
  • Biện Văn T3: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4 số imel 869474053803299.
  • Đinh Tuấn D1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro màu bạc số imel 352507503596692 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Luvi RS màu đỏ-đen biển số 70D1-193.31 số máy 44S1079122, số khung RLCL44S1ODY079389.
  • Nguyễn Hoàng L2: 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1915 màu xanh số imel 867966046457994.
  • Lê Văn G: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh số imel 354668770928378 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sonic màu trắng-đỏ-đen biển số 70L1-805.27 số máy KB11E1243261, số khung MHIKB1117K24371.
  • Trần Thanh H3: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh số imel 869874049824855.
  • Lê Văn T4: 01 điện thoại di động hiệu S2 J7 Prime màu đen số imel 352810098562420.
  • Phạm Văn P: 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1935 màu đen số imel 862101049109153.
  • Võ Ngọc T5: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu đen số imel 861711050352558 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha màu xanh-đen-trắng biển số 70H1-431.06 số máy JA39E1155613, số khung RLHJA3911KY293667.
  • Võ Văn T6: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02 màu xanh số imel 354687769208394 bị bể màn hình và 01 xe mô tô không biển số, số máy VCLC15ZEMH30001000, số khung VPDBCH034PD416082.
  • Lê Văn S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu vàng đen biển số 70H1-010.42 số máy 5C64438885, số khung GLCB5C640BY438884.

Về kê biên tài sản:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đã ban hành các lệnh kê biên:

  • - Lệnh kê biên số 16/LKB-ĐTTH ngày 30-9-2023 đối với bị cáo Lê Văn S; tài sản: Quyền sử dụng đất diện tích 1.100,9 m², thửa đất số 656, tờ bản đồ số 4 (được tách từ thửa đất số 141, tờ bản đồ số 4), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH08727 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16-12-2021 mang tên Lê Văn S, Nguyễn Thị T7.
  • - Lệnh kê biên số 17/LKB-ĐTTH ngày 30-9-2023 đối với bị cáo Phạm Văn P; tài sản: 01 xe ô tô loại xe Toyota Innova màu bạc, biển số 70A-290.81, số khung 42G8F9420349, số máy 1TR8834750.
  • - Sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AD 00022106803 và số AD 00022106804 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T - Tây Ninh phát hành ngày 16-11-2023, tên khách hàng Lê Thị H4 và Đinh Thị Thu H2, số tiền giao dịch 50.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 25-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Đinh Thị Thu H2, Lê Thị H4 phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Nguyễn Trọng H, Trần Thanh H3, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C, Lê Văn G, Biện Văn T3, Trần Công L1, Lê Văn T4, Võ Ngọc T5, Đinh Tuấn D1, Lê Văn S, Nguyễn Hoàng L2, Phạm Văn P, Võ Văn T6, Lê Văn L3, Nguyễn Đình C2 phạm tội “Đánh bạc".

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn T 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt tiền đối với các bị cáo Đinh Thị Thu H2, Lê Thị H4, Lê Văn S, Phạm Văn P; hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Thanh H3, Lê Văn G, Biện Văn T3, Trần Công L1, Lê Văn T4, Võ Ngọc T5, Đinh Tuấn D1, Nguyễn Hoàng L2, Võ Văn T6, Lê Văn L3, Nguyễn Đình C2; về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 29 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Trọng H, bị cáo Nguyễn T, bị cáo Nguyễn Hoàng C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Nguyễn Trọng H trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo tham gia đánh bạc không có mục đích sát phạt. Năm 2005 bị cáo bị xử phạt về tội đánh bạc nhưng đã được xoá án tích. Hoàn cảnh gia đình đang phải nuôi con nhỏ, cha mẹ già đã hết tuổi lao động thường xuyên bệnh nếu phải đi chấp hành án gia đình lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn; bị cáo cung cấp thêm tài liệu tại cấp phúc thẩm: Cậu ruột Đào Khả Đ1 và ông ngoại Đào Khả Ư; là liệt sỹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến.
  • - Bị cáo Nguyễn T trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo tham gia đánh bạc số tiền ít mỗi ván chỉ có 10.000 đồng, không có mục đích sát phạt do ngày tết vui chơi. Bị cáo rất ăn năn hối cải về việc làm của bản thân, thật thà khai báo; năm 2007 bị xử phạt về tội đánh bạc đã được xoá án tích; bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
  • - Bị cáo Nguyễn Hoàng C: Giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo tham gia đánh bạc số tiền ít mỗi ván chỉ có 10.000 đồng, không có mục đích sát phạt do ngày tết ham vui. Bị cáo rất ăn năn hối cải về việc làm của bản thân, thật thà khai báo; năm 2013 bị xử hành chính về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong không còn tiền sự. Hoàn cảnh gia đình rất khó khăn đang phải nuôi con nhỏ dưới 6 tuổi, vợ đã ly hôn và đang phải nuôi dưỡng cha mẹ già, thường xuyên bệnh; là lao động chính trong gia đình nếu phải đi chấp hành án sẽ lâm vào cảnh đặc biệt khó khăn. Bị cáo có cung cấp thêm tại liệu tại cấp phúc thẩm: Bị cáo được Trung đoàn BB5 tặng Bằng khen, có ông nội Nguyễn Văn S1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Các bị cáo H, C, T có nhân thân xấu, số tiền sử dụng đánh bạc lớn hơn các bị cáo khác trong vụ án; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo T không tranh luận:

Người bào chữa cho bị cáo H, bị cáo C trình bày lời bào chữa: Thống nhất về tội danh “Đánh bạc” đối với các bị cáo H, C. Ngày 23-01-2023 các bị cáo đã có hành vi đánh bạc nhưng đánh bạc với hình thức sắc tê mỗi ván chỉ có 10.000 đồng không có tính sát phạt cao; các bị cáo đều không có ý thức sử dụng hết số tiền mang theo để đánh bạc. Bị cáo H có tiền án đã được xoá năm 2008, bị cáo C có tiền sự đã được xoá năm 2013; thời gian đã rất lâu nên việc bản án sơ thẩm nhận định các bị cáo có nhân thân xấu là chưa thoả đáng, gây bất lợi cho các bị cáo.

Đối với bị cáo C đã nhận thức hành vi sai trái, thành khẩn khai báo, là người lao động ở vùng nông thôn nên nhận thức hạn chế nhất định, việc đánh bạc chỉ vui chơi diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nhất định; tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng nhưng chưa cung cấp được tại cấp sơ thẩm và hiện đã cung cấp tại cấp phúc thẩm; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; đã ly hôn vợ nuôi con nhỏ.

Đối với bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu; không có tiền án, tiền sự; chấp hành tốt chính sách của Nhà nước; gia đình có công với cách mạng; cha bị cáo vừa chết, có mẹ bệnh, già yếu; có nơi cư trú rõ ràng.

Do đó, từ phân tích trên đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đối đáp: Bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc 16.000.000 đồng, bị cáo C sử dụng số tiền đánh bạc 4.440.000 đồng, là lớn; tiền án, tiền sự đã được xoá nhưng đây là căn cứ để xem xét thái độ chấp hành pháp luật của các bị cáo; bị cáo H không phải thuộc trường hợp phạm tội lần đầu; các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; nên bản án sơ thẩm xử phạt hình phạt tù là có căn cứ.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    1. [1.1] Đơn kháng cáo của các bị cáo đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn luật định, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
    2. [1.2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với các bị cáo khác; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; nên có căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21-01-2023, tại quán nước của bị cáo Lê Thị H4, Đinh Thị Thu H2, thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh các bị cáo có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài sắc tê cùng với sự tham gia của các bị cáo Trần Công L1Lê Văn S; số tiền sử dụng đánh bạc được xác định của chiếu bạc này là 28.240.000 đồng; ngoài ra, còn có 02 chiếu bạc khác diễn ra cùng thời điểm do các bị cáo khác tham gia đã bị xử lý trong vụ án này. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. [3] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
    1. [3.1] Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo C phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được áp dụng tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    2. [3.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo H cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo có ông ngoại Đào Khả Ư và cậu ruột Đào Khả Đ1 là liệt sỹ, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị cáo Nguyễn T cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con nhỏ và cha mẹ già yếu, bản thân sau khi bị phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo năm 2005 đã chấp hành tốt quy định của địa phương; nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Riêng bị cáo C xuất trình tài liệu thể hiện có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự được Trung đoàn BB5 tặng Bằng khen năm 2006 do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; có ông nội Nguyễn Văn S1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
    3. [3.3] Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức sắc tê đặt cược 10.000 đồng mỗi bị cáo, mỗi ván 50.000 đồng; số tiền hiện hữu đưa vào chiếu bạc để thắng thua từ khoảng thời gian bắt đầu từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ thì bị kiểm tra phát hiện là thấp thể hiện H bỏ ra 500.000 đồng; C bỏ ra 300.000 đồng; T, L1, S mỗi bị cáo 100.000 đồng, thu giữ tại chiếu bạc số tiền đánh bạc là 1.710.000 đồng; thể hiện sòng bạc được hình thành tự phát, không có tính sát phạt cao; nên tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo là không lớn; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; không có tình tiết tăng nặng; cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc, chưa đảm bảo tính phân hoá tội phạm trong vụ án có nhiều bị cáo.
    4. [3.4] Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu Điều 36 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ; cũng đủ tính răn đe và giáo dục. Xét thấy, các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

    Do đó, không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

  4. [4] Các bị cáo Lê Thị H4, Đinh Thị Thu H2 phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; là tội phạm nghiêm trọng; đã sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho 03 chiếu bạc cùng một lúc diễn ra, lôi kéo nhiều người tham gia, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tiền đối với 02 bị cáo này là chưa nghiêm, chưa đảm bảo tính phân hoá tội phạm trong vụ án; cần rút kinh nghiệm.
  5. [5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C.
    • - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an Huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được quyết định thi hành án.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an Huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được quyết định thi hành án.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an Huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18-01-2023 quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án hình sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C.

  5. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn T, Nguyễn Hoàng C không phải chịu án phí phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND T.TN;
  • - TAND. H.Tân Biên;
  • - Chi cục THADS. H. Tân Biên;
  • - Công an H. Tân Biên;
  • - Phòng PV 06 CATTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Hùng và đồng phạm "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger