|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Chính và ông Phạm Ngọc Minh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hoa Lê – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 04/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024, đối với bị cáo:
Trần Văn E – Sinh năm 2003, tại Ninh Thuận; nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn K và bà Võ Thị D; Vợ: Lê Thị Thùy M, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: ông Bùi Văn D1 – Sinh năm: 1963; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn V – Sinh năm: 1997; địa chỉ: khu phố A, thị trấn P, N, Ninh Thuận – Vắng mặt
- Ông Trần Văn K – Sinh năm: 1979; địa chỉ: Từ T, P, N, Ninh Thuận – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/7/2024, trên đường đi làm về cách nhà khoảng 01 km, Em nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng của ông Bùi Văn D1 (sinh năm 1963, trú tại thôn T) đang dựng trên bãi đất trống bên đường ở thôn T, có sẵn chìa khoá trên xe và không có ai trông coi. Sau khi được anh trai chở về đến nhà thì Trần Văn E nảy sinh ý định trộm cắp nên một mình đi bộ quay lại nơi chiếc xe của ông D1 lén lút bật chìa khoá và nổ máy xe chạy về căn nhà hoang gần nhà Em để cất dấu. Để tẩu tán tài sản, E đi ra quán Internet của nhà anh H cùng thôn đăng nhập vào tài khoản Facebook của E là “thong.coi.0” đăng tin lên nhóm mua bán xe cũ Ninh Thuận với nội dung có xe Sirius cần bán, xe không có giấy tờ thì có tài khoản Facebook “Louis Louis” vào bình luận, hỏi mua và gọi điện qua M1 cho Trần Văn E hẹn khoảng 30 phút sau có mặt tại cây xăng P gần ngã ba đường đi vào thôn T, xã P để giao xe và trả tiền. Trần Văn E đi đến chỗ cất dấu lấy xe chạy đến điểm hẹn gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, E nói với người này là xe của mình bị mất giấy tờ, do cần tiền nên bán với giá 3.000.000 đồng, người đàn ông trả giá 2.700.000 đồng, E đồng ý bán, lấy tiền tiêu dùng cá nhân hết.
Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày 31/7/2024, anh Nguyễn Văn V (sinh năm 1997, trú tại khu phố A, thị trấn P, huyện N) vào Facebook tìm mua xe cũ thì được người đàn ông có tài khoản mạng xã hội “Louis Louis” thỏa thuận bán chiếc xe mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng nói trên với giá 3.400.000 đồng. Sau khi mua xe đem về nhà, biết được chiếc xe mới mua là tài sản của người khác bị mất trộm trước đó nên anh V đã đem xe đến giao nộp cho Công an xã P.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KLĐGTS-HĐĐG ngày 27/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định: Tại thời điểm bị trộm cắp, chiếc mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng của anh Bùi Văn D1 có giá trị 6.300.000 đồng (sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số: 64/CT-VKS-HS ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Trần Văn E về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn E phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn E từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
2
* Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong quá trình điều tra thể hiện như sau: Bị hại đã nhận lại tài sản, có đơn bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn K có ý kiến tranh luận đồng ý dùng số tiền đã nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo để bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tộ của bị cáo gây ra và xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Văn E. Ông Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra có lời khai yêu cầu được bồi thường thiệt hại số tiền 3.400.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc xe là tang vật của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V. Tuy nhiên, những người này có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp chứng cứ khách quan được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để xác định được:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/7/2024, Trần Văn E lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng của ông Bùi Văn D1 đang dựng trên bãi đất trống bên đường ở thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, sau đó bán lại cho một người không rõ nhân thân, lai lịch được số tiền 2.700.000 đồng và tiêu dùng cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KLĐGTS-HĐĐG ngày 27/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Tại thời điểm bị trộm cắp, chiếc mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng của anh Bùi Văn D1 có giá trị 6.300.000 đồng (sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
3
Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
Đối chiếu quy định trên, có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Văn E phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là có căn cứ.
[4]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động cha là ông Trần Văn K nộp khắc phục toàn bộ hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra còn xem xét cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là: bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo; bị cáo đang nuôi dưỡng hai con còn nhỏ.
[5]. Xét bị cáo sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tiếp tục thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đang bị điều tra, truy tố nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, có hai con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
[7]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 85D1-315.42, hiệu Sirius, màu xanh trắng của ông Bùi Văn D1 đã thu hồi và trả lại cho ông Bùi Văn D1. Quá trình điều tra, truy tố ông D1 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Đối với các thiệt hại khác do hành vi phạm tội gây ra được xác định như sau: Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo E bán lại cho một người không rõ nhân thân lai lịch số tiền 2.700.000 đồng, sau đó người này bán lại cho ông Nguyễn Văn V số tiền 3.400.000 đồng, ông V sau đó đã giao nộp lại chiếc xe trả lại chủ sở hữu. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đều xác định khi bán xe cho người không rõ nhân thân lai lịch, bị cáo có nói rõ xe này của bị cáo bị mất giấy tờ nên không có căn cứ xử lý đối với người mua về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Người mua xe không rõ nhân thân, lai lịch sau đó bán lại xe cho ông V với số tiền 3.400.000 đồng, ông V sau đó đã giao nộp lại xe cho Cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền. Do chưa xác định được người bán xe cho ông V nên số tiền 3.400.000 đồng được xác định là thiệt hại do hành vi
4
phạm tội của bị cáo E gây ra. Tại phiên tòa, bị cáo E đồng ý bồi thường số tiền 3.400.000 đồng cho ông V. Đây là sự tự nguyện của bị cáo nên được chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo có tác động ông Trần Văn K là cha ruột của bị cáo nộp khắc phục số tiền 6.300.000 đồng, tại phiên tòa ông Trần Văn K đồng ý dùng số tiền này để bồi thường thiệt hại cho bị cáo và không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử khấu trừ số tiền 3.400.000 đồng bồi thường cho ông V, số tiền còn lại là 2.900.000 đồng trả lại cho ông Trần Văn K.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn E: 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều: 584; 586; 589 của Bộ luật dân sự 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Văn E bồi thường số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn V. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 2.700.000 đồng do ông Trần Văn K nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo theo Ủy nhiệm chi số 11 ngày 05/11/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện N và khấu trừ vào số tiền 3.600.000 đồng theo Biên lai thu số 0002129 ngày 25/11/2024 do ông Trần Văn K nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Số tiền còn lại 2.900.000 đồng trả lại cho ông Trần Văn K.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Trần Văn E phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28-11-2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
6
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thị Hường Phạm Ngọc Minh |
Trần Văn Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
7
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường |
Trần Văn Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
8
9
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn E phạm tội Trộm cắp tài sản
