Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
  2. Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Út M, sinh ngày 11/9/1986; tại: huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Ấp L.2, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Phước T, sinh năm 1962 và bà: Võ Thị H, sinh năm 1964; chồng: Lâm Hoàng Tr (đã ly hôn); con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/3/2019 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, theo Quyết định số: 09/QĐ-TA; bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà Tạm giữ - Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang từ ngày 31/10/2023 đến ngày 27/11/2023 được bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn V, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp L.3, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  1. Mai Thị Trúc L, sinh năm 2000 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp X, xã Đ, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/10/2023, Nguyễn Thị Út M thuê phòng trọ của ông Ngô Thành T thuộc ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang, M sử dụng điện thoại lên mạng đặt mua 01 bộ sử dụng ma tuý và 01 cân tiểu ly. Sau đó M liên hệ người bán đặt mua ma tuý. Sáng ngày 30/10/2023 có Shipper đến giao bộ sử dụng ma tuý và cân tiểu ly giá 180.000 đồng, một lúc sau có một người khác đến giao 02 bịch ma tuý với giá 2.200.000 đồng tại phòng trọ số 2 (tính từ phía sau trở vào), Nguyễn Thị Út M đổ ma tuý vào nỏ thuỷ tinh một ít để sử dung số ma tuý còn lại M chiết ra thành nhiều bịch nylon nhỏ (nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện, số ma tuý M sử dụng hàng ngày thì M lấy từ số ma tuý M bán ra một ít đủ để sử dụng xong M hàn kín lại để bán). Sau đó, Mai Thị Trúc L gọi điện đến hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý thì M đồng ý và hẹn gặp để giao. M lấy 01 bịch ma tuý để trong hộp nhựa màu đen để trong phòng trọ, 01 bịch để trong túi áo khoác bên trái dự định đem đi bán cho Mai Thị Trúc L, bỏ trong túi xách 01 bịch ma tuý nhỏ và 01 bịch lớn (bên trong có 11 bịch ma tuý nhỏ).

Đến khoảng 18 giờ ngày 30/10/2023, Nguyễn Văn V (người sống chung như vợ chồng với M) đến chơi thì M cùng với V sử dụng ma tuý đã để sẵn trong nỏ thuỷ tinh trước đó (mục đích đi giao ma tuý cho Mai Thị Trúc L nhưng M không nói cho V biết việc này), khi V đang mở cổng nhà trọ và M đang dắt xe thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trong túi áo khoác màu đen đang mặc trên người của Nguyễn Thị Út M 01 bịch nylon được hàn kín, kích thước 3,8cm x 2,5cm bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma tuý. Tiếp tục kiểm tra trong túi xách của M đang đeo trên người phát hiện bên trong túi xách 01 bịch nylon được hàn kín, kích thước 4cm x 4cm bên trong chưa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma tuý; 01 bịch nylon có kích thước khoảng 8,5cm x 5cm bên trong chứa 11 bịch nylon có các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma tuý. Tiến hành kiểm tra phòng trọ số 2 do M thuê phát hiện 01 hộp màu đen có kích thước 5,5cm x 4cm chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất; 01 bộ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu cốm Cintrolagi có nắp đậy màu trắng, bằng nhựa, hình tròn, trên nắp có khui 02 lỗ (01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 lỗ gắn ống bằng thuỷ tinh có chiều dài 13,5cm bên trong ống thuỷ tinh có chứa các chất bám dính) và 01 cây cân điện tử màu đen viền trắng có kích thước 6,5cm x 3,5cm. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong, thu giữ toàn bộ các vật chứng trên theo quy định.

Ngoài ra, Nguyễn Thị Út M và Mai Thị Trúc L khai nhận trước ngày M bị bắt khoảng 07 ngày, M có bán ma tuý cho Ly 01 lần số tiền là 200.000 đồng, địa điểm giao nhận ma tuý tại khu vực cầu treo Bào Môn, xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại Kết luận giám định số: 1111/LK-KTHS ngày 05/11/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

  • Gói 01: Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6530 gam.
  • Gói 02: Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 12 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,434 gam.
  • Gói 03:
    • + Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,6683 gam.
    • + Chất bám dính bên trong 01 ống thuỷ tinh được niêm phong gửi đi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0.0668 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Biên tiến hành thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 bịch nylon hàn kín kích thước 3,8cm x 2,5cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 bịch nylon hàn kín kích thước 4cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 bịch nylon có kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 11 bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 cái áo khoác màu đen, chất liệu bằng vải đã qua sử dụng.
  • 01 túi xách màu đen, xám có dây đeo màu đen, đầu dây bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • 01 hộp đen kích thước 11cm x 6,5cm x 2cm.
  • 01 cân điện tử màu đen viền trắng có kích thước 6,5cm x 3,5cm.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu cốm Cinatrlagi có nắp đậy màu trắng, bằng nhựa, hình tròn, trên nắp có khu 02 lỗ (01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 lỗ gắn ống bằng thuỷ tinh có chiều dài 13,5cm bên trong ống thuỷ tinh có chứa các chất bám dính).

Tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKS-AB, ngày 12/8/2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Út M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Út M và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Út M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm n, r, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út M từ 03 năm đến 04 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M phải chấp hành.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị xử:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 bịch nylon hàn kín kích thước 3,8cm x 2,5cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 bịch nylon hàn kín kích thước 4cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 bịch nylon có kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 11 bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất.
  • 01 cái áo khoác màu đen, chất liệu bằng vải đã qua sử dụng.
  • 01 túi xách màu đen, xám có dây đeo màu đen, đầu dây bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • 01 hộp đen kích thước 11cm x 6,5cm x 2 cm.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu cốm Cinatrlagi có nắp đậy màu trắng, bằng nhựa, hình tròn, trên nắp có khui 02 lỗ (01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 lỗ gắn ống bằng thuỷ tinh có chiều dài 13,5cm bên trong ống thuỷ tinh có chứa các chất bám dính).

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 cân điện tử màu đen viền trắng có kích thước 6,5cm x 3,5cm.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M nộp số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Số tiền này bị cáo đã nộp xong.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Thị Út M có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không đề nghị phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi cất giấu ma tuý của Nguyễn Thị Út M nhằm mục đích mua bán chứ không nhằm mục đích sử dụng do đó hành vi của Nguyễn Thị Út M không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện An Biên, tình Kiên Giang đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án và Quyết định đình chỉ điều tra bị can cùng số: 01 và cùng ngày 22/7/2024 đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Nguyễn Thị Út M.

Đối với hành vi của Mai Thị Trúc L, mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng và đã sử dụng hết nên không thu giữ được ma tuý do đó hành vi của Mai Thị Trúc L không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ là người quản lý hợp pháp nhà trọ nơi Nguyễn Thị Út M thuê ở không biết việc M dùng nhà trọ để mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý do đó hành vi của Nguyễn Văn Đ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo tỏ ra biết ăn năn, hối cải, nhìn nhận sai trái và hứa sau này sống tốt và tuân thủ pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Do muốn có ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời, ngày 28/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị Út M sử dụng điện thoại lên mạng đặt mua 01 bộ sử dụng ma tuý và 01 cân tiểu ly. Sau đó M liên hệ người bán đặt mua ma tuý. Sáng ngày 30/10/2023 có Shipper đến giao bộ sử dụng ma tuý và cân tiểu ly giá 180.000 đồng, một lúc sau có một người khác đến giao 02 bịch ma tuý với giá 2.200.000 đồng tại phòng trọ số 2 (tính từ phía sau trở vào), Nguyễn Thị Út M đổ ma tuý vào nỏ thuỷ tinh một ít để sử dung, số ma tuý còn lại M chiết ra thành nhiều bịch nylon nhỏ (nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện, số ma tuý M sử dụng hàng ngày thì M lấy từ số ma tuý M bán ra một ít đủ để sử dụng xong M hàn kín lại để bán). Sau đó Mai Thị Trúc L điện thoại cho M hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý thì M đồng ý. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn V đến chơi thì M lấy ma tuý ra cùng với Vũ sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Mi nhờ Vũ chỡ đi công chuyện (mục đích đi giao ma tuý cho Mai Thị Trúc L nhưng M không nói cho Vũ biết việc này). Khi Vũ đang mở cổng nhà trọ và Mi đang dắt xe thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trong túi áo khoác màu đen đang mặc trên người của M 01 bịch nylon bên trong có chứa 0,653 gam ma tuý loại Methamphetamine (theo giám định); thu giữ trong túi xách màu đen của Mi có 12 bịch nylon chứa 1,4934 gam ma tuý loại Methamphetamine (theo giám định); thu giữ trong phòng trọ của M 01 cái hộp bên trong có 01 bịch nylon chứa 1,6683 gam ma tuý loại Methamphetamine (theo giám định) và 01 nỏ thuỳ tinh chứa 0,0668 gam ma tuý loại Methamphetamine (theo giám định).

Ngoài ra Nguyễn Thị Út M và Mai Thị Trúc L khai nhận trước ngày M bị bắt khoảng 07 ngày, Mi có bán ma tuý cho L 01 lần số tiền là 200.000 đồng, địa điểm giao nhận ma tuý tại khu vực cầu treo Bào Môn, xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Út M về tội “Mua bán chất ma túy trái phép” và tội “Tổ chứ sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo là rất nghiêm trọng, ma túy là chất độc gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người, làm suy giảm về sức khỏe, đạo đức, lối sống, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội và còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như giết người, trộm cắp, cướp giật tài sản... nên Nhà nước độc quyền quản lý loại độc chất này, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, thu lợi bất chính mà bị cáo đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân, thu lợi bất chính. Do đó, cần xử bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo đang có thai và sau khi bị bắt đã tự thú khai nhận hành vi phạm tội trước đây và đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Thị Út Mi được quy định tại điểm n, r, s khoản 1, 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2025 xử:

Tịch thu tiêu hủy gồm:

  • 01 cái áo khoác màu đen, chất liệu bằng vải đã qua sử dụng.
  • 01 túi xách màu đen, xám có dây đeo màu đen, đầu dây bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • 01 hộp đen kích thước 11cm x 6,5cm x 2cm.
  • 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu cốm Cinatrlagi có nắp đậy màu trắng, bằng nhựa, hình tròn, trên nắp có khui 02 lỗ mặt trên nắp.
  • 01 ống thuỷ tinh dài khoảng 13,5cm.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 1 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 0,6126 gam đựng trong 01 bịch nylon.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 2 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 1,4122 gam đựng trong 02 bịch nylon.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 3 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 1,6213 gam đựng trong 01 bịch nylon; chất bám dính trong ống thuỷ tinh còn lại sau giám định có khối lượng 0,0291 gam đựng trong 01 bịch nylon; 01 ống thuỷ tinh.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 cân điện tử màu đen viền trắng có kích thước 6,5cm x 3,5cm.

Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đang quản lý. Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 38/QĐ-VKS-AB ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M nộp số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Số tiền này bị cáo đã nộp xong.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Thị Út M không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi của Mai Thị Trúc L, mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng và đã sử dụng hết nên không thu giữ được ma tuý do đó hành vi của Mai Thị Trúc L không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ là người quản lý hợp pháp nhà trọ nơi Nguyễn Thị Út M thuê ở không biết việc M dùng nhà trọ để mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý do đó hành vi của Nguyễn Văn Đ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

[6] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội cho từng bị cáo, mức hình phạt, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ vào Điều 251và Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Út M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm n, r, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út M 03 (ba) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n, s khoản 1 Điều 51và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út M 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M phải chấp hành là 05 (năm) năm tù, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến ngày 27/11/2023, thời hạn tù còn lại buộc bị cáo phải tiếp tục chấp hành. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

2- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy gồm:

  • 01 cái áo khoác màu đen, chất liệu bằng vải đã qua sử dụng.
  • 01 túi xách màu đen, xám có dây đeo màu đen, đầu dây bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng.
  • 01 hộp đen kích thước 11cm x 6,5cm x 2cm.
  • 01 chai nhựa có dán nhãn hiệu cốm Cinatrlagi có nắp đậy màu trắng, bằng nhựa, hình tròn, trên nắp có khui 02 lỗ mặt trên nắp.
  • 01 ống thuỷ tinh dài khoảng 13,5cm.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 1 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 0,6126 gam đựng trong 01 bịch nylon.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 2 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 1,4122 gam đựng trong 02 bịch nylon.
  • 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 1111/2023/gói 3 bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 1,6213 gam đựng trong 01 bịch nylon; chất bám dính trong ống thuỷ tinh còn lại sau giám định có khối lượng 0,0291 gam đựng trong 01 bịch nylon; 01 ống thuỷ tinh.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 cân điện tử màu đen viền trắng có kích thước 6,5cm x 3,5cm.

Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đang quản lý. Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 38/QĐ-VKS-AB ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M nộp số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Số tiền này bị cáo đã nộp xong, theo lai thu số: 0002667 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hánh án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Thị Út M không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không phạt tiền đối với bị cáo.

3- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Út M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/9/2024). Đối với anh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - TAND tỉnh;
  • - Sở Tư Pháp;
  • - Cơ quan CSĐT-CA huyện;
  • - THA huyện;
  • - Bị cáo,người TGTT
  • - Lưu hố sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký và đóng dấu

Phạm Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ ÚT M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger