Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 18-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai và ông Lê Nguyễn Minh Tùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1999, tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký thường trú: Số F, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở: Hộ không số, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M (chết) và con bà: Võ Kim P; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em: Có 02 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992, bị cáo là con út; Tiền sự: Ngày 22/3/2024 bị Công an xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số F, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
  2. Anh Bùi Văn Ú, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số F, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số B, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở: Số G, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  4. Chị Võ Thị Thanh T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Số D, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lưu Văn Quốc T2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Sa G, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Số A, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  3. Chị Tô Kim H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Số A, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn T3, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Số A, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
  2. Anh Nguyễn Bê T4, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Số F, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  3. Anh Lê Thành M1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
  4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Số F, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
  5. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1968 Nơi cư trú: Số D, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn L đi tìm tài sản của người khác lén lút chiếm đoạt. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Nguyễn Văn L đi bộ đến nhà số F, ấp Đ, xã T, thành phố S do anh Bùi Văn Ú và chị Nguyễn Thị Thúy Q làm chủ. Lào quan sát nhìn thấy cửa nhà sau không đóng nên đã lén lút đi vào bên trong rồi lục tìm và lấy tài sản gồm: 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu ACER; 01 sợi dây chuyền kiểu mắc xích, có mặt hình phật bằng vàng, có tổng trọng lượng là 1,5 chỉ, loại vàng 18K; 01 sợi dây chuyền kiểu mắc xích, bằng vàng trọng lượng là 03 chỉ, loại vàng 18K; 02 chiếc vòng đeo tay bằng vàng, có tổng trọng lượng là 01 chỉ, loại vàng 18K; 02 chiếc bông tai bằng vàng, có tổng trọng lượng 0,5 chỉ, loại vàng 18K; số tiền 3.650.000 đồng, trong đó trong bóp da của anh Bùi Văn Ú 150.000 đồng và lấy con heo đất của chị Nguyễn Thị Thúy Q đem ra cách nhà khoảng 300m đập bể lấy số tiền 3.500.000 đồng.

Sau khi lấy được tài sản Nguyễn Văn L cất giấu trong người, riêng máy tính xách tay cất giấu trong đóng củi gần nhà chị Q rồi Lào đi đến tiệm sửa xe “Mãi” tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S do anh Lê Thành M1 làm chủ để chuộc lại xe mô tô, biển số 66LA-058.89 mà Lào đã cầm cho anh M1 trước đó với số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Văn L điều khiển mô tô, biển số 66LA-058.89 đến tiệm vàng “Trúc A”, tọa lạc tại đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, gặp và thỏa thuận bán cho anh Lưu Văn Quốc T2 01 sợi dây chuyền kiểu mắc xích, bằng vàng trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 18K, với giá 11.633.000 đồng và mua lại một sợi dây chuyền sợi dây chuyền kiểu mắc xích, bằng vàng, trọng lượng 1,5 chỉ, loại vàng 18K, với giá: 7.445.000 đồng.

Nguyễn Văn L đi đến tiệm V1” ngụ đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, gặp và thỏa thuận bán cho bà Nguyễn Thị Sa G 02 chiếc vòng đeo tay bằng vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ, với giá: 4.500.000 đồng.

Có được tiền Nguyễn Văn L đem trả nợ cho chị Nguyễn Thị N 2.000.000 đồng, anh Nguyễn Bê T5 1.300.000 đồng; chuộc lại điện thoại 500.000 đồng đã cầm cho anh Trần Văn T3 trước đó; cho người bạn tên V 1.000.000 đồng.

Đối với chị Nguyễn Thị Thúy Q khi phát hiện bị mất tài sản đến Công an xã T, thành phố S trình báo sự việc.

Qua xác minh Nguyễn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cơ quan Công an tiến hành thu giữ gồm:

- Tổng cộng 9.100.000 đồng (trong đó L giao nộp 2.300.000 đồng; anh M1 3.000.000 đồng, chị N 2.000.000 đồng, anh T5 1.300.000 đồng, anh T3 500.000 đồng).

- 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu ACER; 01 sợi dây chuyền kiểu mắc xích, có mặt hình phật bằng vàng; 01 sợi dây chuyền kiểu mắc xích, bằng vàng; 01 chiếc bông tai bằng vàng; 01 xe mô tô biển số biển số 66LA 058.59; 01 cái áo thun dài tay, màu đen, trên áo có ghi dòng chữ Sport; 01 quần sọt bằng vãi, màu đen; 04 mãnh vỡ, màu trắng vàng.

Cơ quan Công an trích xuất 03 đoạn dữ liệu Camera tại nhà của chị Nguyễn Thị Thúy Q có ghi hình liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L, được lưu vào USB; trích xuất 01 đoạn dữ liệu Camera tại tiệm V1 có ghi hình liên quan đến việc Nguyễn Văn L bán vàng, được lưu vào USB để làm căn cứ giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đang điều tra đối với Nguyễn Văn L về hành vi phạm tội vào ngày 23/5/2024 thì đến khoảng 04 giờ ngày 29/6/2024 L tiếp tục đi tìm tài sản người khác lấy trộm. Khi đến nhà số D ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì L nhìn thấy 01 chiếc xe đạp, loại xe Martin của anh Nguyễn Văn T đang để nằm ngã trước cửa nhà, thấy nhà không có cửa rào nên L đi vào lấy và lên xe đạp chạy thoát.

Nguyễn Văn L chạy đến nhà số D, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, thì nhìn thấy có một chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu Lihaze của chị Võ Thị Thanh T1 đang dựng bên hông nhà, nên L bỏ lại 01 chiếc xe đạp Martin vừa lấy trộm tại lề đường đoạn trước nhà số D, rồi đi vào nhà đến nơi dựng xe đạp điện thấy trên xe có ghim sẵn chìa khóa nên L lấy và mở khóa, điều khiển xe chạy xe về nhà cất giấu.

Đến ngày 09/7/2024, L đem chiếc xe đạp điện đến gặp và thỏa thuận bán cho chị Tô Kim H, với giá 4.500.000 đồng, chị H đồng ý mua và trả cho Lào 1.500.000 đồng, còn nợ lại Lào 3.000.000 đồng. Sau khi mua được xe chị H nghi ngờ xe đạp điện do L lấy trộm của người khác mà có nên đến Công an xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp trình báo sự việc.

Nguyễn Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe đạp của anh Nguyễn Văn T và xe đạp điện của chị Võ Thị Thanh T1. Cơ quan Công an tiến hành thu giữ gồm: 01 chiếc xe đạp loại Martin và 01 xe đạp điện, nhãn hiệu Lihaze.

- Tại kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐGTS, ngày 06/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận:

+ 01 con heo đất được sơn màu vàng có chiều dài khoảng 40cm, rộng 20cm, có trị giá là: 123.333 đồng.

+ 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ACER 9494A08 màu đen, có trị giá là: 1.766.666 đồng. Tổng tài sản có giá trị: 1.889.999 đồng.

- Tại Công văn số 1052/TCKT, ngày 21/6/2024 của Phòng tài chính - kế hoạch thành phố S cung cấp: Giá vàng nữ trang 18K, vào ngày 23/5/2024, mua vào: 5.050.000 đồng/chỉ; bán ra: 5.350.000 đồng/chỉ.

Quá trình điều tra xác định, chị Nguyễn Thị Thúy Q và Nguyễn Văn L thống nhất số vàng Lào chiếm đoạt của chị Q là 06 chỉ, loại vàng 18K, và thống nhất giá trị vàng là 5.350.000 đồng/chỉ, không yêu cầu tiến hành định giá, vì vậy Cơ quan điều tra xác định giá trị vàng mà Lào đã chiếm đoạt là 6 chỉ vàng 18K x 5.350.000 đồng/chỉ = 32.100.000 đồng.

- Tại kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐGTS, ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

+ 01 chiếc xe đạp loại Martin, màu tím, có gắn rổ xe phía trước và phần da bao yên chở người ngồi phía sau bị rách, có trị giá là: 400.000 đồng.

+ 01 xe đạp điện, nhãn hiệu Lihaze, 03 yên, 07 màu, phía trước có gắn rổ xe màu đen, có trị giá là: 6.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 6.900.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Lào chiếm đoạt vào ngày 23/5/2024 và ngày 29/6/2024 có giá trị là 44.539.999 đồng.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSTPSĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị Thúy Q không có ý kiến tranh luận; xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Ngày 23/5/2024, tại ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt các tài sản gồm: Vàng, máy tính xách tay, heo đất, tiền có tổng trị giá 37.639.999 đồng của anh Bùi Văn Ú, chị Nguyễn Thị Thúy Q. Ngày 29/6/2024, tại ấp K và ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, Lào tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe đạp Martin và 01 xe đạp điện, có tổng trị giá 6.900.000 đồng của của anh Nguyễn Văn T và chị Võ Thị Thanh T1, nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn L chiếm đoạt là 44.539.999 đồng.

[3] Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự, đã từng tham gia lực lượng dân quân tự vệ của xã T nên bị cáo hoàn toàn nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của người khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Thế nhưng với tư tưởng xấu, bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động, bị cáo nảy sinh ý định đi tìm tài sản trộm cắp, rồi đột nhập vào nhà lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá 37.639.999 đồng của anh Bùi Văn Ú, chị Nguyễn Thị Thúy Q. Trong quá trình điều tra, bị cáo tiếp tục lén lút chiếm đoạt 01 xe đạp Martin và 01 xe đạp điện, có tổng trị giá 6.900.000 đồng của anh Nguyễn Văn T và chị Võ Thị Thanh T1, chứng tỏ bị cáo quá xem thường pháp luật, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 44.539.999 đồng thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lào nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, trong đó có 02 lần chiếm đoạt tài sản có trị giá trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; bồi thường khắc phục một phần thiệt hại xảy ra; bị hại Q xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S tặng giấy khen vì đã “Đ thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng Quân sự địa phương và có thành tích xuất sắc trong việc cứu hộ, cứu nạn tai nạn giao thông trên địa bàn xã T”, vì vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.

[8] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với anh Nguyễn Văn T, chị Võ Thị Thanh T1 đã nhận lại được tài sản bị thiệt hại, chị Tô Kim H đã nhận lại số tiền 1.500.000 đồng là tiền bỏ ra mua xe đạp điện do Nguyễn Văn L bán nên không ai yêu cầu gì thêm.

- Đối với chị Nguyễn Thị Thúy Q đã nhận lại số tài sản do Công an thu giữ và số tiền 12.100.000 đồng. Chị Q yêu cầu Nguyễn Văn L bồi thường số tiền trị giá thiệt hại còn lại là 6.385.333 đồng. Bị cáo L đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị Q, nên chấp nhận sự tự thỏa thuận của các bên.

[10] Về xử lý vật chứng:

Đối với 04 mảnh vỡ, màu trắng vàng là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển số biển số 66LA-058.59 là của bị cáo L, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành.

Đối với 01 USB có lưu giữ 03 đoạn dữ liệu Camera có ghi hình liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L; 01 USB có lưu giữ 01 đoạn dữ liệu Camera có ghi hình liên quan đến việc Nguyễn Văn L bán vàng; 01 đĩa DVD có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình việc hỏi cung Lào vào ngày 19/7/2024, cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Các vấn đề khác:

Đối với anh Lưu Văn Quốc T2, bà Nguyễn Thị Sa G và chị Tô Kim H có mua vàng và xe đạp điện do L bán nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 587, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
  5. Bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thúy Q số tiền 6.385.333 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.

  6. Về xử lý vật chứng:
  7. Tịch thu tiêu hủy: 04 mảnh vỡ, màu trắng vàng, chưa kiểm tra chất liệu, được niêm phong trong túi nilon và được để bên trong phong bì có dòng chữ CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP-CÔNG AN THÀNH PHỐ SA ĐÉC bên ngoài có đóng dấu mộc tròn màu đỏ của Công an xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, có chữ ký họ tên của Nguyễn Văn L và Đỗ Phú L2.

    Tiếp tục quản lý: 01 xe mô tô biển số biển số 66LA-058.59, có tem nhãn hiệu Super Dream, màu sơn xanh, máy xe có chữ HONDA CPI, Số khung RP2DCB2PD9A000687, Số máy VZS139FMB-900687 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lào.

    (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024)

    Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 USB có lưu giữ 03 đoạn dữ liệu Camera có ghi hình liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L; 01 USB có lưu giữ 01 đoạn dữ liệu Camera có ghi hình liên quan đến việc Nguyễn Văn L bán vàng; 01 đĩa DVD có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình việc hỏi cung Lào vào ngày 19/7/2024.

  8. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  9. Bị cáo Nguyễn Văn L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và nộp 319.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Công an TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THA TP Sa Đéc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Thi hành án phạt tù;
  • - Bị cáo & người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT. (H.M)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger