Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 11 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Đường Ngọc Đại.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QÐST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn Đ (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 23 tháng 3 năm 1990; nơi sinh: Xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; cư trú tại: thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: tự do; con ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Võ Thị N (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02 tháng 02 năm 2010, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội tặng Giấy khen do đã có thành tích xung phong tình nguyện nhập ngũ đợt 1 năm 2010. Tháng 02 năm 2010 nhập ngũ tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 8 năm 2011 xuất ngũ. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

2. Tạ Việt C (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 25 tháng 8 năm 1993; nơi sinh: Xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; cư trú tại: thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Tạ Văn Đ1 (đã chết) và bà Lưu Thị T1; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 18/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Đánh bạc”, (Đã được xóa án tích).

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, bị cáo bị Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt

ngày 30 tháng 7 năm 2020 (đã được xóa); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

Người làm chứng: Ông Tường Thế Q, sinh năm 1980; cư trú tại: Phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 02 năm 2024, Hoàng Văn Đ một mình thuê xe ôm của 01 người đàn ông không quen biết, không nhớ biển kiểm soát của xe từ nhà đến thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến gần thôn B, Đ xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi bộ đến khu vực cánh đồng thôn B. Tại đây, Đ gặp và mua 02 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo của 01 người đàn ông lạ mặt tự giới thiệu tên là T2 với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Đ đi bộ ra đầu thôn B, thuê xe ôm của 01 người đàn ông lạ mặt đi về. Khi đến xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Đ xuống xe, trả tiền xe ôm rồi cho 02 viên ma túy kẹo vừa mua được vào vỏ bao thuốc lá T của Đ rồi cất giấu vào chân 01 cột điện ở khu vực đê gần nhà của Đ rồi đi về nhà.

Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, Đ thuê xe ôm của 01 người đàn ông lạ mặt đi đến nhà nghỉ P, có địa chỉ tại: Tổ I, phường H, thành phố P để chơi với bạn là Tạ Việt C. Khi gặp nhau, biết Đ nghiện ma túy tổng hợp, nên C đã hỏi Đ “Anh có hàng không, để em hai viên kẹo, nếu có tối mang cho em”. Đ hiểu ý C muốn hỏi mua 02 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo, do đang có sẵn 02 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo Đ vừa mua được trước đó hiện đang cất giấu tại chân cột điện gần nhà, nên Đ đồng ý và nói với C “Ừ, tối anh mang đến, 02 viên ma túy kẹo là 800.000 đồng”. C đồng ý mua và nói “Ok, tối mang đến em gửi tiền”. Sau đó, Đ ra về.

Đến khoảng gần 00 giờ ngày 26 tháng 02 năm 2024, Đ mang theo 02 viên ma túy dạng kẹo, rồi một mình thuê taxi đi đến nhà nghỉ P để bán ma tuý cho C. Khi đến gần nhà nghỉ P, thấy C đang đứng trước cửa nhà nghỉ, Đ bảo người lái xe dừng lại rồi trả tiền người lái xe taxi, sau đó xuống xe đi bộ đến gặp C, còn người lái xe taxi điều khiển xe đi luôn. Khi gặp C, Đ lấy ra 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu nâu đưa cho C, C cầm túi nilon chứa ma tuý tại lòng bàn tay trái rồi trả cho Đ số tiền 800.000 đồng tiền mua ma tuý (gồm 04 tờ tiền polyme, mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng). Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 26 tháng 02 năm 2024, khi Đ vừa cầm số tiền bán ma túy cho C thì bị Cơ quan Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Hoàng Văn Đ số tiền 800.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng), là tiền Đ vừa bán ma túy cho C.

- Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Tạ Việt C 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu nâu, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định, là ma túy C vừa mua được của Đ.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ mẫu nước tiểu của Hoàng Văn ĐTạ Việt C cho vào 02 chai nhựa có đậy nắp kín, dán giấy niêm phong theo quy định để giám định chất ma túy.

Đối với người đàn ông tên là T2, là người bán ma túy cho bị cáo Đ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với người lái taxi chở bị cáo Đ đến nhà nghỉ P, đến nay cơ quan điều tra không làm rõ tên, tuổi địa chỉ; khi đi bị cáo Đ không nói cho người lái xe trên biết mục đích đi bán ma tuý. Vì vậy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với 02 người lái xe ôm, là người đã chở Đ đi mua ma túy, đến nay cơ quan điều tra không làm rõ tên, tuổi địa chỉ của hai người trên; khi đi bị cáo Đ không nói cho người lái xe ôm trên biết mục đích đi mua ma tuý. Vì vậy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra không đề cập xử.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 539/KL-KTHS, kết luận: “02 (Hai) viên nén màu nâu có trong mẫu ký hiệu A1 là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 0,8492g (Không phảy tám bốn chín hai gam, không kể bao bì).

Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,8080 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh V.

Tại bản Kết luận giám định số 581/KL-KTHS ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Tạ Việt C kết luận: “Tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu thu của Tạ Việt C, sinh năm: 1993, HKTT: xã T, huyện M, thành phố Hà Nội gửi giám định”.

Tại bản Kết luận giám định số 591/KL-KTHS ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Hoàng Văn Đ kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1990, HKTT: xã T, huyện M, thành phố Hà Nội gửi giám định”. Cơ quan giám định hoàn lại: Không.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSPY ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tạ Việt C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về các tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật

Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 02 năm 10 tháng đến 02 năm 11 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tạ Việt C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 07 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam các bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như sau: Hồi 00 giờ 10 phút ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại tổ I, phường H, thành phố P, Hoàng Văn Đ có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy (MDMA) có khối lượng 0,8492 gam cho Tạ Việt C với giá tiền 800.000 đồng. Tạ Việt C mua ma túy (MDMA) của Hoàng Văn Đ với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng MDMA của Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Tạ Việt C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"...

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều trong độ tuổi lao động, không chịu tu dưỡng rèn luyện, ăn chơi đua đòi ngang nhiên mua bán, tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng và bán thu lợi cá nhân. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với Hoàng Văn Đ trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo từng có thời gian đi bộ đội đóng quân tại Trung đoàn 692, Sư đoàn C2 thành phố S từ tháng 02 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011 xuất ngũ trở về địa phương nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Tạ Việt C mặc dù trước khi phạm tội năm 2017, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang kết án về tội “Đánh bạc” nhưng đã được xóa án tích và năm 2020 bị Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đã được xóa nên được coi như không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thấp hơn mức đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông tên là T2, là người bán ma túy cho bị cáo Đ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Đối với người lái taxi chở bị cáo Đ đến nhà nghỉ P, đến nay cơ quan điều tra không làm rõ tên, tuổi địa chỉ; khi đi bị cáo Đ không nói cho người lái xe trên biết mục đích đi bán ma tuý. Vì vậy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với 02 người lái xe ôm, là người đã chở Đ đi mua ma túy, đến nay cơ quan điều tra không làm rõ tên, tuổi địa chỉ của hai người trên; khi đi bị cáo Đ không nói cho người lái xe ôm trên biết mục đích đi mua ma tuý. Vì vậy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo Hoàng Văn Đ, Tạ Việt C đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 800.000 đồng (gồm 04 tờ tiền Polyme mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng) là tiền Đ bán ma túy mà có cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

Đối với mẫu ma túy thu của Tạ Việt C do cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,8080 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn Đ, Tạ Việt C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Tạ Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Đ 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 26 tháng 02 năm 2024.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tạ Việt C 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 26 tháng 02 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy mẫu ma túy thu của Tạ Việt C do cơ quan giám định hoàn lại A1 = 0,8080 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong hoàn trả sau giám định.

Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn Đ số tiền 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 88 lập ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ, Tạ Việt C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND T.Vĩnh Phúc;
  • - Viện KSND TP.Phúc Yên;
  • - CQĐT - Công an TP.Phúc Yên;
  • - Cơ quan THAHS-HTTP CA.TP Phúc Yên;
  • - Trại TG – CA T.Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp T.Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS TP.Phúc Yên;
  • - Các bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Anh Vũ

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Đạt mua bán TPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger