|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 03 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Tám và ông Huỳnh Văn Sức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thi là Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, An Giang, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lê Văn L, sinh ngày 16/7/1994, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H; Trình độ học vấn: lớp 4/12; con ông Lư Văn R (chết) và bà Lê Thị P, sinh năm 1966. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo Lê Văn L bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/8/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P (có mặt).
- Phan Văn T, sinh ngày 09/3/1994 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H; trình độ học vấn: lớp 3/12; con ông Phan Văn K, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1970. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo Phan Văn T bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 22/8/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Huỳnh Hồng L1, sinh năm 1967, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1965, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện P, An Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1976, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện P, An Giang (vắng mặt).
- Bà Lê Thị P, sinh năm 1966, nơi cư trú ấp B, xã B, huyện P, An Giang (có mặt).
- Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Tuyết N, ông Huỳnh Phú X, ông Nguyễn Văn D và cháu Nguyễn Đình N1 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài nên Phan Văn T, sinh ngày 09/3/1994 rủ Lê Văn L, sinh ngày 16/7/1994, cùng ngụ ấp B, xã B, huyện P tìm tài sản lấy trộm.
Khoảng 02 giờ ngày 20/8/2024, Phan Văn T và Lê Văn L đi bộ để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nhà của ông Huỳnh Hồng L1, sinh năm 1967, ngụ ấp B, xã B, huyện P, cách nhà các bị cáo khoản 700m về hướng xã H, L và T nhặt đoạn cây gỗ gần đó rồi cạy phá cửa sau nhà ông L1, cả hai đột nhập vào nhà, lấy trộm tài sản gồm: 01 chiếc nhẫn vàng 18 kara, trọng lượng 1,6 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18 kara, trọng lượng 1,926 chỉ; 01 điện thoại di động hiệu S1 8, màu đen và 1.700.000 đồng, rồi tẩu thoát. Đến ngày 22/8/2024, L và T đến Công an xã B Đông đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, L và T còn tự thú về hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/8/2024, T và L đi bộ để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực ấp B, xã B, huyện P, T phát hiện cửa sau nhà của bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1967, không khóa cửa nên cùng với L đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi 9T, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11, màu đen và 30.000 đồng.
Toàn bộ tài sản L và T trộm được trong 02 lần nói trên, L đều đưa cho T cất giữ. Đến ngày 21/8/2024, L và T đi bộ đến tiệm V” thuộc ấp B, xã B, huyện P do ông Nguyễn Đức L3, sinh năm 1976 làm chủ, bán sợi dây chuyền vàng với giá 8.590.000 đồng. Cả hai tiếp tục đi đến chợ B 2 thuộc xã P, huyện P bán 03 điện thoại di động cho một người đàn ông lạ mặt (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 5.300.000 đồng.
Sau đó, L một mình đến tiệm V tại xã P (không rõ tên và địa chỉ cụ thể) bán 01 chiếc nhẫn vàng với giá 4.530.000 đồng. Tổng số tiền bán các tài sản và tiền mặt lấy trộm là 20.150.000 đồng, Lúa chia Tòng 5.730.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG.TTHS ngày 30/8/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu S1 8, màu đen, trị giá 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi 9T, màu xanh, trị giá 900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11 Pro 5G, màu đen, trị giá 2.000.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại (vàng 18 kara), trọng lượng 1,926 chỉ, trị giá 8.590.000 đồng; 01 chiếc nhẫn kim loại (vàng 18 kara), trọng lượng 1,6 chỉ, trị giá 7.136.000 đồng; tất cả đã qua sử dụng, tổng cộng 20.216.000 đồng.
* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P đã thu giữ và trả lại cho bị hại ông Huỳnh Hồng L1 01 sợi dây chuyền bằng kim loại (vàng 18 kara), trọng lượng 1,926 chỉ; Thu giữ của bị cáo Lê Văn L số tiền 1.000.000 đồng (số tiền còn lại do bán các tài sản lấy trộm được của ông Huỳnh Hồng L1).
* Phần trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Huỳnh Hồng L1 yêu cầu bị cáo L và T bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 10.336.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 57/CT-VKSPT ngày 05 tháng 11 năm 2024 của VIện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại ông L1, người liên quan ông L3 vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị: Về trách nhiệm hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điểu 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo Lê Văn L từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điểu 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo Phan Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/8/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình
sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Lê Văn L giao nộp để đảm bảo thi hành án. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T liên đới bồi thường cho ông Huỳnh Hồng L1 số tiền 10.336.000 đồng.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại ông L1, người liên quan ông L3 và người làm chứng vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 1 giờ 30 ngày 13/8/2024 tại khu vực ấp B, xã B, huyện P, An Giang, các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T đã có hành vi lén lút vào nhà lấy trộm của bà Nguyễn Thị Kim C 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi 9T, màu xanh (trị giá 900.000 đồng), 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11 Pro 5G, màu đen (trị giá 2.000.000 đồng) và 30.000 đồng. Đến khoảng 02 giờ ngày 20/8/2024, cũng tại khu vực trên các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T lại có hành vi lén lút vào nhà lấy trộm của ông Huỳnh Hồng L1 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen (trị
giá 1.500.000 đồng), 01 sợi dây chuyền bằng kim loại (vàng 18 kara), trọng lượng 1,926 chỉ (trị giá 8.590.000 đồng), 01 chiếc nhẫn kim loại (vàng 18 kara), trọng lượng 1,6 chỉ (trị giá 7.136.000 đồng) và 1.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản lấy trộm là 21.856.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, sống lành mạnh tạo lập cuộc sống cho già đình để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không phân công vai trò từng người nên là đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, cả hai đều là người thực hành, trong đó T là người chủ mưu, rủ rê bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm và vai trò của từng bị cáo trong vụ án.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo 02 lần cùng nhau phạm tội trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; tự thú và đầu thú về hành vi phạm tội; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị can Lê Văn L tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo L, T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo L còn có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bồi thường trách nhiệm dân sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng các bị cáo phạm tội nhiều lần. Điều đó chứng tỏ các bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo T là chủ mưu, rủ rê bị cáo L cùng
phạm tội, nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo L, ngoài ra bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có mức hình phạt thấp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo L giao nộp, đây là số tiền còn lại do bán tài sản lấy trộm được của ông Huỳnh Hồng L1 nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Kim C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L4 (người mua sợi dây chuyên vàng) đã được gia đình bị cáo L bồi thường thiệt hại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết. Bị hại ông Huỳnh Hồng L1 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường 10.336.000 đồng, do các bị cáo lấy trộm tài sản của ông L1 bán cho người lạ, không thu hồi được nên buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông L1 số tiền 10.336.000 đồng. Bị cáo L là người quản lý tất cả tài sản và trực tiếp bán tài sản trộm được, có chia cho bị cáo T 5.730.000 đồng, do đó số tiền bồi thường trong đó phần nghĩa vụ của bị cáo T là 5.730.000 đồng.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn Tòng phạm T1 “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt các bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/8/2024).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt các bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/8/2024).
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 589
Bộ luật Dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Huỳnh Hồng L1 số tiền 10.336.000₫ (mười triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) (trong đó phần nghĩa vụ của bị cáo T là 5.730.000đồng)
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo L giao nộp theo giấy nộp tiền ngày 06/9/2024 của ngân hàng V1 để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Văn L và Phan Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 466.000đ án phí dân sự sơ thẩm trong hình sự.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
