Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày: 24-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên

Bà Phạm Phong Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1, do có kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của các bị hại Võ Văn S, Nguyễn Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thái C, sinh năm 1986 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái C1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Nguyễn Phi H (tên gọi khác: Hai C3), sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị C4, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Tại bản án số 63 ngày 25/12/2000 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.
  3. Trần Thanh H1, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: không.

Các bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Các bị hại có kháng cáo:

  1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1986 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31/5/2023, Nguyễn Thái C, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận điều khiển xe mô tô đến sát hàng rào của nhà ông Võ Văn S rồi C gọi ông S ra hàng rào phía trước nhà để nói chuyện. Khi C và ông S nói chuyện được một lúc thì Nguyễn Phi H, sinh năm 1979 và Trần Thanh H1, sinh năm 1979 cùng trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận đi thăm ruộng nhìn thấy C nên đi bộ đến. Lúc này, C hỏi ông S: “Mày là dân ở đâu mà tới đây cướp đất, cướp vợ người ta?” và vừa muốn đánh ông S thì được H1 can ngăn và nói: “Từ từ bình tĩnh, nhà này người ta ở có giấy tờ hợp pháp đàng hoàng”, ông S trả lời: “Anh em ở đâu tới đây có gì vô nhà uống nước từ từ nói chuyện”. Nhưng giữa hai bên xảy ra cãi vã nhau thì C dùng tay phải đấm vào vùng mặt và dùng chân phải đá vào người ông S nhưng ông S né tránh được. Ông S nhìn thấy H và H1 lấy khúc cây ở sát hàng rào trước nhà ông S cầm trên tay nên ông S bỏ chạy vào trong sân nhà rồi đóng cửa cổng lại. C, H và H1 đuổi theo, C dùng chân phải đạp ngã cửa cổng rồi cùng với H lao vào trong sân nhà của ông S để tiếp tục đánh ông S. Thấy vậy, ông S nhặt lấy 01 cây sắt dùng để chống chào máy cày đang để ở gần khu vực trước cửa nhà rồi quay ra với ý định chống trả khi bị đánh. Thấy ông S cầm cây sắt nên H nhào tới giằng co giật lấy cây sắt rồi đánh 01 cái từ trên xuống dưới về phía ông S nhưng không trúng. Lúc này, H1 đang đứng bên ngoài hàng rào cầm cây gỗ liên tục đưa lên nhá đánh vào ông S. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1989 (là vợ ông S) cùng anh Nguyễn Thanh T (là em rể ông S) chạy đến can ngăn. Anh T lao vào giằng co với H, giật lấy cây sắt trong tay của H rồi đưa cho bà T1, bà T1 đem cây sắt ném ra phía sau nhà và tiếp tục quay lại can ngăn. Trong lúc giằng co, C dùng tay phải đánh tạt ngang từ phải qua trái trúng vào má trái ông S, còn H cầm cây gỗ đánh từ trên xuống dưới nhiều cái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái, cánh tay trái và các ngón tay của ông S. Ông T và bà T1 khi đang can ngăn cũng bị H dùng cây gỗ đánh nhiều cái trúng vào cẳng bàn tay trái, mu bàn tay phải của anh T và vùng má trái của bà T1. Lúc này, có cháu Nguyễn Võ Thanh T2, sinh năm 2017 (con của anh T) đứng gần đó thì cũng bị nhóm của C đánh trúng 01 cái vào vùng trán trái (nhưng không rõ bị ai đánh). Sau đó, bà T1 hô hoán và dùng điện thoại để gọi cho người thân đến giúp đỡ thì H1 ném bỏ khúc cây, rồi đi về trước. C và H tiếp tục đứng lại chửi bới một lúc rồi cả hai ra về.

Ngày 26/6/2023, Võ Văn S và Nguyễn Thanh T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, yêu cầu giám định thương tích.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 440/KLTTCT-TTPYBT ngày 18/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Võ Văn S như sau:

  • - Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu bên trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước: (4x0,5)cm. Tỷ lên tổn thương cơ thể là 2%.
  • - Sây sát da ngón 3 bàn tay phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo mờ mặt mu đốt gần ngón 3 kích thước: (1x0,1)cm. Tỷ lên tổn thương cơ thể là 1%.
  • - Sưng bầm 1/3 trên cánh tay trái, sưng ngón 1 bàn tay trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Văn S tại thời điểm giám định là: 3%.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 439/KLTTCT-TTPYBT ngày 14/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho bà Phạm Thị T1 như sau: Sây sát sưng nề vùng má trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 442/KLTTCT-TTPYBT ngày 21/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Nguyễn Thanh T như sau:

  • - Chấn thương - sây sát sưng nề cẳng bàn tay trái gãy đầu dưới xương trụ trái đã được điều trị, hiện ổn định, để lại sẹo lành kích thước: (1x0,6)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 6%+2%.
  • - Sây sát da mặt mu ngón 4, 5 bàn tay phải (không phải sưng nề) đã được điều trị hiện để lại sẹo lành kích thước:
    • + Vết 1 ngón 4: (2,4x0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%
    • + Vết 2 ngón 5: (0,5x0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Thanh T tại thời điểm giám định là: 10%.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 441/KLTTCT-TTPYBT ngày 14/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho cháu Nguyễn Võ Thanh T2 như sau:

  • - Sây sát da vùng trán trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
  • - Vết thương phần mềm vùng đỉnh đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (2x0,4)cm không có trong giấy chứng nhận thương tích. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

* Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 khúc cây gỗ hình chữ nhật, kích thước (1,5 x 5)cm, dài 01m mà Nguyễn Phi H khai sử dụng để đánh ông S rồi ném đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với 02 đoạn cây gỗ hình chữ nhật, kích thước (2,5 x 3,5)cm, trong đó đoạn thứ nhất dài 50cm có đóng 02 cây đinh sắt ở một đầu; đoạn thứ hai dài 33,5cm có đóng 03 cây đinh sắt ở một đầu. Đây là tang vật của vụ án đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 thiết bị lưu trữ (USB) chứa 03 đoạn video, đã chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1, phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái C 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh H1 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (06/3/2024).

Trong thời gian thử thách, bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Trần Thanh H1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Trần Thanh H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 586, 587, 590, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  • * Buộc bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 bồi thường cho bị hại Võ Văn S số tiền 30.868.000 đồng, cụ thể:
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Thái C bồi thường cho bị hại Võ Văn S số tiền 10.289.000 đồng.
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Phi H bồi thường cho bị hại Võ Văn S số tiền 10.289.000 đồng.
    • + Buộc bị cáo Trần Thanh H1 bồi thường cho bị hại Võ Văn S số tiền 10.289.000đồng. Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường trước số tiền 6.950.000 đồng, nên bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.339.000 đồng.
  • * Buộc bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh T số tiền 32.704.372 đồng, cụ thể:
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Thái C bồi thường cho Nguyễn Thanh T số tiền 10.901.000 đồng (làm tròn).
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Phi H bồi thường cho Nguyễn Thanh T số tiền 10.901.000 đồng (làm tròn).
    • + Buộc bị cáo Trần Thanh H1 bồi thường cho Nguyễn Thanh T số tiền 10.901.000 đồng (làm tròn). Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường trước số tiền 6.950.000 đồng, nên bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.951.000 đồng.
  • * Buộc bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 bồi thường cho cháu Nguyễn Võ Thanh T2 số tiền 388.900 đồng, cụ thể:
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Thái C bồi thường cho cháu Nguyễn Võ Thanh T2 số tiền 129.500 đồng (làm tròn).
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Phi H bồi thường cho cháu Nguyễn Võ Thanh T2 số tiền 129.500 đồng (làm tròn).
    • + Buộc bị cáo Trần Thanh H1 bồi thường cho cháu Nguyễn Võ Thanh T2 số tiền 129.500đồng (làm tròn).
  • * Tiếp tục tạm giữ số tiền các bị cáo Nguyễn Thái C (Theo Giấy nộp tiền ngày 06/11/2022, ngày 22/11/2023) và Nguyễn Phi H (Theo Giấy nộp tiền ngày 10/11/2023, Biên lai thu tiền ngày 05/3/2024) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11, 12/3/2024 các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 và các bị hại Nguyễn Thanh T, Võ Văn S kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình. Trong đơn kháng cáo thể hiện, sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã vô cùng hối hận, xin lỗi và bồi thường khắc phục hậu quả, trả lại danh dự cho các bị hại; được các bị hại tha thứ và có đơn xin bãi nại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án hình sự vì các bị cáo đã được các bị hại tha thứ, không yêu cầu xử lý hình sự nữa.
  • - Các bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 vì mâu thuẫn giữa các bên đã được giải quyết, hiểu lầm đã được tháo gỡ, các bị cáo vô cùng hối hận, xin lỗi và bồi thường khắc phục hậu quả, trả lại danh dự cho các bị hại nên cho các bị cáo một cơ hội để sửa lại những sai lầm của mình, làm người lương thiện, lao động lo cho gia đình.
  • - Ý kiến của Kiểm sát viên: Xét thấy việc các bị hại xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Do đó, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và đình chỉ vụ án hình sự đối với Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 đã bị xét xử sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 và các bị hại Nguyễn Thanh T, Võ Văn S nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31/5/2023, tại thôn T, xã S, huyện B, Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H và Trần Thanh H1 đã có hành vi vô có dùng cây đánh ông Võ Văn S và ông Nguyễn Thanh T. Hậu quả đã gây thương tích cho Võ Văn S với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%, gây thương tích cho Nguyễn Thanh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% (theo kết quả giám định).

Ngày 26/6/2023, Võ Văn S và Nguyễn Thanh T có đơn yêu cầu giám định thương tích, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

[3] Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H và Trần Thanh H1 về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng pháp luật.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 và các bị hại Võ Văn S, Nguyễn Thanh T kháng cáo bản án sơ thẩm; tại phiên tòa phúc thẩm các bị hại xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với các bị cáo.

[5] Đây là vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, tại đơn kháng cáo, đơn xin bãi nại và tại phiên tòa phúc thẩm các bị hại xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, các bị hại đã xác nhận sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã xin lỗi bị hại và bồi thường khắc phục hậu quả, trả lại danh dự cho các bị hại; các bị cáo là trụ cột trong gia đình phải chăm sóc cha mẹ già, con nhỏ. Do đó, các bị hại nhận thấy không cần thiết phải trừng trị đối với bị cáo, cho các bị cáo cơ hội để sửa chữa lỗi lầm làm người công dân chấp hành tốt pháp luật. Các bị hại Võ Văn S, Nguyễn Thanh T xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trong tình trạng sức khỏe bình thường, tỉnh táo, minh mẫn, không bị đe dọa hay ép buộc, việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng với ý chí, nguyện vọng của các bị hại và đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ vụ án.

[6] Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của các bị hại đối với các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H và Trần Thanh H1 là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, Công văn số 254//TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận và quyết định hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, đồng thời đình chỉ vụ án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H và Trần Thanh H1 đã bị xét xử sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Các bị hại không có quyền yêu cầu khởi tố lại vụ án. Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do các bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án, không phải do lỗi của Tòa án sơ thẩm.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 và các bị hại Võ Văn S, Nguyễn Thanh T, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận và đình chỉ vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/TL-HSST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo Nguyễn Thái C, Nguyễn Phi H, Trần Thanh H1 và các bị hại Võ Văn S, Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS, CA, TA, THA huyện Bắc Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm về tội "cố ý gây thương tích"

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31/5/2023, Nguyễn Thái C, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận điều khiển xe mô tô đến sát hàng rào của nhà ông Võ Văn S rồi C gọi ông S ra hàng rào phía trước nhà để nói chuyện. Khi C và ông S nói chuyện được một lúc thì Nguyễn Phi H, sinh năm 1979 và Trần Thanh H1, sinh năm 1979 cùng trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận đi thăm ruộng nhìn thấy C nên đi bộ đến. Lúc này, C hỏi ông S: “Mày là dân ở đâu mà tới đây cướp đất, cướp vợ người ta?” và vừa muốn đánh ông S thì được H1 can ngăn và nói: “Từ từ bình tĩnh, nhà này người ta ở có giấy tờ hợp pháp đàng hoàng”, ông S trả lời: “Anh em ở đâu tới đây có gì vô nhà uống nước từ từ nói chuyện”. Nhưng giữa hai bên xảy ra cãi vã nhau thì C dùng tay phải đấm vào vùng mặt và dùng chân phải đá vào người ông S nhưng ông S né tránh được. Ông S nhìn thấy H và H1 lấy khúc cây ở sát hàng rào trước nhà ông S cầm trên tay nên ông S bỏ chạy vào trong sân nhà rồi đóng cửa cổng lại. C, H và H1 đuổi theo, C dùng chân phải đạp ngã cửa cổng rồi cùng với H lao vào trong sân nhà của ông S để tiếp tục đánh ông S. Thấy vậy, ông S nhặt lấy 01 cây sắt dùng để chống chảo máy cày đang để ở gần khu vực trước cửa nhà rồi quay ra với ý định chống trả khi bị đánh. Thấy ông S cầm cây sắt nên H nhào tới giằng co giật lấy cây sắt rồi đánh 01 cái từ trên xuống dưới về phía ông S nhưng không trúng. Lúc này, H1 đang đứng bên ngoài hàng rào cầm cây gỗ liên tục đưa lên nhá đánh vào ông S. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1989 (là vợ ông S) cùng anh Nguyễn Thanh T (là em rể ông S) chạy đến can ngăn. Anh T lao vào giằng co với H, giật lấy cây sắt trong tay của H rồi đưa cho bà T1, bà T1 đem cây sắt ném ra phía sau nhà và tiếp tục quay lại can ngăn. Trong lúc giằng co, C dùng tay phải đánh tạt ngang từ phải qua trái trúng vào má trái ông S, còn H cầm cây gỗ đánh từ trên xuống dưới nhiều cái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái, cánh tay trái và các ngón tay của ông S. Ông T và bà T1 khi đang can ngăn cũng bị H dùng cây gỗ đánh nhiều cái trúng vào cẳng bàn tay trái, mu bàn tay phải của anh T và vùng má trái của bà T1. Lúc này, có cháu Nguyễn Võ Thanh T2, sinh năm 2017 (con của anh T) đứng gần đó thì cũng bị nhóm của C đánh trúng 01 cái vào vùng trán trái (nhưng không rõ bị ai đánh). Sau đó, bà T1 hô hoán và dùng điện thoại để gọi cho người thân đến giúp đỡ thì H1 ném bỏ khúc cây, rồi đi về trước. C và H tiếp tục đứng lại chửi bới một lúc rồi cả hai ra về.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger