Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày: 22/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du.

Bà Lê Thị Phương Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLPT- HS ngày 11 tháng 3 năm 2024. Do Bản án Hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXPT-HS ngày 02/4/2024.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Trọng N, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số I T, phường A, quận D, TP Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đỗ Văn N1 (SN 1957) và bà Nguyễn Thị H (Đã chết); Có vợ là Lê Thị Thúy A (SN 1985); Có 03 con, (lớn nhất SN 2008, nhỏ nhất SN 2019); Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T (có mặt).
  2. Họ và tên: Đồng Ngô Minh H1, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đồng Văn M (SN 1964) và bà Ngô Minh L (SN 1966); Có vợ là Phạm Thị Hải A1 (SN 1990); Có 04 con (lớn nhất SN 2013, nhỏ nhất SN 2022); Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T (có mặt).
  3. Họ và tên: Dương Văn T, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Dương Văn H2 (SN 1972) và bà Dương Thị T1 (SN 1971); Có vợ là Nguyễn Thị N2 (SN 1991); Có 03 con (lớn nhất SN 2010, nhỏ nhất SN 2021); Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến ngày 22/8/2023 được áp dụng biện pháp “Bảo lĩnh” (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không kháng cáo):

  1. Công ty TNHH T8. Địa chỉ: Số G X, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Tống Viết Anh N3 - Giám đốc
  2. Công ty cổ phần P2. Địa chỉ: Số D đường F T, phường D, Quận H, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện tổ chức: Bà Đỗ Thị Hoàng Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/3/2023, Công ty TNHH T8 có địa chỉ tại số G đường X, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh kiến nghị đến Cục Quản lý thị trường tỉnh T về việc phát hiện trên địa bàn thành phố T đang lưu hành hàng giả là trà mang nhãn hiệu Lộc Phát nên ngày 10/4/2023, Đội Quản lý thị trường số A2, Cục Quản lý thị trường tỉnh T tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh đồ pha chế của Đặng Quốc T2 tại số nhà E N, phường P, thành phố T. Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ 66(kg) các sản phẩm trà Lộc Phát gồm 03 gói Trà đen Lộc Phát, 63 gói trà lài Lộc Phát (loại 01kg/gói). Nghi vấn số hàng trên giả mạo nhãn mác, bao bì hàng hóa của Công ty TNHH T8 nên đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiến hành điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Quốc T2 khai nhận toàn bộ số hàng hóa trên là hàng giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8. T2 mua của Dương Văn T ở thành phố H, tỉnh Hưng Yên với mục đích bán để kiếm lời.

Trên cơ sở lời khai của T2, ngày 12/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét cửa hàng của Dương Văn T tại số nhà H L, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, phát hiện thu giữ 24 gói trà đen loại 01kg và 38 gói lục trà lài loại 01kg có in logo của Công ty TNHH T8. Khám xét mở rộng tại nhà anh Nguyễn Văn K ở đội A, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (nơi Dương Văn T gửi hàng), thu giữ 540 gói trà đen loại 01kg có in logo của Công ty TNHH T8.

Đến ngày 18/6/2023, Dương Văn T tự nguyện khai báo và giao nộp 1.470 gói trà đen loại 01kg/túi có in logo của Công ty TNHH T8 cất giấu tại nhà ông Nguyễn Duy L1 ở Thôn T, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên và khai nhận toàn bộ số hàng hóa trên là giả nhãn hiệu trà Lộc Phát mà Thạo mua của Nguyễn Văn T3 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 14/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét tại kho hàng của Nguyễn Văn T3 (T3 thuê lại của ông Nguyễn Phước B (SN 1978) ở số A Ấp A, đường K, xã T, huyện B, TP Hồ Chí Minh), thu giữ 01 cân đo khối lượng, 02 máy ép nhiệt, 09 thùng mỗi thùng chứa 1.000 vỏ túi trà đen Lộc Phát; 130 túi trà đen Lộc Phát loại 01 kg; 02 muỗng xúc trà bằng inox; 01 bộ dập ngày sản xuất, hạn sử dụng; 01 bì xác rắn chứa các vỏ túi nilon đựng chè nguyên liệu; 06 cuộn dây dù để đóng gói bao bì.

Tại Cơ quan Điều tra, T3 khai nhận toàn bộ số hàng hóa trên là hàng giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8 do T3 cùng với Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1, Nguyễn Văn Đ thực hiện việc sản xuất, buôn bán.

Ngày 14/6/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T khám xét nơi làm việc của N nhưng không thu giữ được gì.

Ngoài ra, T3 khai nhận vào ngày 12/6/2023, Đặng Quốc T2 đặt mua của NT3 500kg trà giả nhãn hiệu Phúc Long để bán cho Nguyễn Văn Q (SN 1984), trú tại D N, phường C, quận P, TP Hồ Chí Minh.

Ngày 16/6/2023, Nguyễn Văn Q tự nguyện giao nộp 1.000 túi trà loại 500g có in logo của Công ty CP P2.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận:

Khoảng cuối năm 2022, do quen biết nhau trong quá trình kinh doanh, Đỗ Trọng N (Giám đốc Công ty TNHH S1 và cà phê Búp trà tươi) cùng với Nguyễn Văn T3Đồng Ngô Minh H1 bàn bạc, thống nhất phương thức sản xuất các sản phẩm của Công ty TNHH T8Công ty CP P2 với chi phí sản xuất thấp để bán ra thị trường vì 02 thương hiệu trà này đang được người tiêu dùng ưa chuộng. H1 (nguyên là Giám đốc Công ty T9, có địa chỉ tại thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) sẽ có nhiệm vụ thu mua nguyên liệu trà từ các thương lái theo đơn đặt hàng của NT3, H1 tìm mua các loại trà có chất lượng tương tự như các sản phẩm trà của Công ty TNHH T8Công ty CP P2 trên địa bàn thành phố B tỉnh Lâm Đồng rồi gửi xe khách xuống Thành phố Hồ Chí Minh cho T3N. T3 là người trực tiếp thuê nhà kho, nhân công, đặt in bao bì, mua dụng cụ để đóng gói. Thông tìm đặt in bao bì giả qua mạng xã hội, mua các dụng cụ như máy ép nhiệt, máy in hạn sử dụng, dây cuộn, sau đó thuê nhân công thời vụ để đóng gói các sản phẩm trà giả.

Đến tháng 4 năm 2023, do có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Văn Đ nên Đỗ Trọng N đã nhờ Đ liên hệ với Hồ Văn P (SN 1988), trú tại thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đặt in 30.000 bao bì giả nhãn hiệu trà đen Phúc Long loại 0,5kg/túi với giá 80.000.000đ. Sau khi đóng gói thành phẩm, N, T3Đ lên mạng xã hội để tìm khách, giới thiệu là hàng chính hãng để chào hàng. Khi có khách đặt hàng, T3 gửi hàng qua các nhà xe và yêu cầu khách thanh toán bằng tiền mặt cho nhà xe. Sau khi nhận tiền hàng, T3, Đ giữ lại phần tiền lãi sau khi trừ đi các chi phí và chuyển tiền lại cho N thông qua tài khoản của chị Lê Thị Thu T4 (SN 1988), trú tại 1 H, phường P, quận G, TP Hồ Chí Minh là bạn của N, được N nhờ nhận và chuyển tiền. Sau khi T3 chuyển tiền vào tài khoản của T4, T4 sẽ chuyển tiền để thanh toán tiền nguyên liệu cho H1.

Do có nhu cầu kinh doanh mặt hàng là trà, Dương Văn T trao đổi với Nguyễn Văn T3, sau khi biết trà của T3 đang rao bán là trà giả, T đặt mua với số lượng lớn để bán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và các tỉnh lân cận và đã bán 90 kg trà (giả nhã hiệu Lộc Phát) cho Đặng Quốc T2 ở thành phố T với giá 111.000 đồng/kg. Ngoài mua của T, T2 còn thông qua mạng xã hội liên lạc trực tiếp với Đỗ Trọng N để mua 500kg trà đen Phúc Long giả rồi bán cho anh Ông Văn Q (SN 1982), trú tại: D N, phường C, Quận P, TP . để kiếm lời.

Tính đến tháng 6 năm 2023, N, T3, H1 đã sản xuất và bán ra thị trường 2.706 kg trà giả nhãn hiệu Lộc Phát và Phúc L2. Trong đó, bán cho Dương Văn T 2.206 kg trà giả nhãn hiệu Lộc Phát với giá 105.000đ/kg, bán cho Đặng Quốc T2 500kg trà giả nhãn hiệu Phúc Long, sau đó T2 bán lại cho Ông Văn Q với giá 91.000đ/gói loại 500g.

Quá trình sản xuất, buôn bán các mặt hàng trên, N, T3, H1, Đ, T thu lời bất chính số tiền khoảng 109.254.000đ. Trong đó, NT3 mỗi người hưởng lợi số tiền 40.590.000đ, H1 hưởng lợi số tiền 6.618.000đ; Đ hưởng lợi số tiền 7.500.000đ; T hưởng lợi số tiền 12.456.000đ, T2 hưởng lợi số tiền 11.000.000đ.

* Tại Bản kết luận giám định số 2035/KL-KTHS ngày 31/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận đối với số hàng hóa thu giữ được tại cửa hàng của Đặng Quốc T2 như sau:

  • 03 bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu cần giám định so với bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu so sánh không cùng bản in in ra;
  • 63 bao bì gói “LỤC TRÀ LÀI” mẫu cần giám định so với bao bì gói “LỤC TRÀ LÀI” mẫu so sánh không cùng bản in in ra.

* Tại Bản kết luận giám định số 2342/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

Đối với số hàng hóa thu giữ được tại cửa hàng của Dương Văn T tại địa chỉ H L, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên:

  • 24 bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu cần giám định so với bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu so sánh cùng bản in in ra.
  • 38 bao bì gói “LỤC TRÀ LÀI” mẫu cần giám định so với bao bì gói “LỤC TRÀ LÀI” mẫu so sánh cùng bản in in ra.

Đối với số hàng hóa T cất giấu tại nhà anh Nguyễn Văn K ở Đ, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên: 540 bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu cần giám định so với bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu so sánh không cùng bản in in ra.

* Tại Bản kết luận giám định số 2746/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận đối với 1470kg gói trà đen Lộc Phát T5 tự nguyện giao nộp và 130 gói trà đen Lộc Phát thu giữ được tại kho hàng của Nguyễn Văn T3: 1600 bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu cần giám định so với bao bì gói “TRÀ ĐEN” mẫu so sánh không cùng bản in in ra.

* Tại Bản kết luận giám định số 2429/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận đối với 1000 gói “TRÀ ĐEN Phúc Long”, khối lượng 500g/01 gói thu được tại cửa hàng của Nguyễn Văn Q:

1000 bao bì gói “TRÀ ĐEN Phúc Long” mẫu cần giám định so với bao bì gói “TRÀ ĐEN Phúc Long” mẫu so sánh không cùng bản in in ra.

Căn cứ vào kết quả giám định, số hàng hóa được xác định là hàng giả có tổng khối lượng: 2.706kg bao gồm 2.206kg trà giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8 và 500 kg trà giả nhãn hiệu Công ty CP P2.

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

Thu giữ của Đặng Quốc T2: 03 gói Trà đen Lộc Phát, 63 gói (loại 01kg/gói) lục trà lài Lộc Phát. Thu giữ của Dương Văn T: 24 gói trà đen (loại gói 01kg) và 38 gói lục trà lài (loại gói 01kg) có in logo của Công ty TNHH T8. Thu giữ tại nhà anh Nguyễn Văn K ở địa chỉ ở đội A, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên: 540 gói trà đen (loại gói 01kg) có in logo của Công ty TNHH T8.(của Dương Văn T gửi). Dương Văn T tự nguyện giao nộp:1.470 gói trà đen (loại gói 01kg) có in logo của Công ty TNHH T8. Thu giữ của Nguyễn Văn T3: 01 cân đo khối lượng, 02 máy ép nhiệt, 09 thùng mỗi thùng chứa 1000 vỏ túi trà đen Lộc Phát; 130 túi trà đen Lộc Phát loại 01 kg; 02 muỗng xúc trà bằng inox; 01 bộ dập ngày sản xuất, hạn sử dụng; 01 bì xác rắn chứa các vỏ túi nilon đựng chè nguyên liệu; 06 cuộn dây dù để đóng gói bao bì. Anh Ông Văn Q tự nguyện giao nộp: 1000 túi trà loại 500g có in logo của Công ty CP P2 mua của Đặng Quốc T2 và Thu giữ của Đỗ Trọng N 01 điện thoại Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số I: 352607740312810.

Đối với 24 túi trà đen Lộc P1 và 36 túi lục trà lài Lộc Phát, theo Kết luận giám định không phải là hàng giả nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Dương Văn T.

Đối với 01 điện thoại Nokia màu xanh đã qua sử dụng, số Imei: 352607740312810 thu giữ của Đỗ Trọng N, quá trình điều tra xác định là máy của Lê Thị Thu T4 nên Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị T4.

Đối với các vật chứng còn lại đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

Cơ quan Điều tra đã làm việc với đại diện pháp lý của các Công ty có sản phẩm liên quan đến vụ án và thu thập tài liệu gồm:

  • Công ty TNHH T8 cung cấp: Các bản tự công bố sản phẩm số 08,09,10/2022, 01 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 385348.
  • Công ty CP P3: 01 bản tự công bố sản phẩm số 008/PLH/2022; các giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 281973,277174,; 02 túi đựng trà đen bên ngoài có in logo trà đen, khối lượng 500g; 01 vỏ thùng loại bìa cotton trên bề mặt có in logo nhãn hiệu “Tea Phuc Long".

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 68/KLĐG ngày 29/5/2023 và Công văn số: 15/HĐĐGTS-CV ngày 26/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 kg trà đen Lộc Phát có giá thị trường là 155.000đ/kg; 01 kg trà đen Phúc Long có giá thị trường là 244.000đ/kg.

Như vậy, hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị là:

  • (03 + 540 + 130 + 1.470) kg trà đen Lộc Phát x 155.000đ = 332.165.000₫
  • 63 kg lục trà lài Lộc Phát x 155.000₫ = 9.765.000₫
  • 500kg trà đen Phúc Long x 236.000₫ = 118.000.000₫

Tổng giá trị hàng hóa bị làm giả là: 459.930.000đ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, chín trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó:

  • Số lượng hàng giả Dương Văn T buôn bán là: Bán cho T2 90 kg Lộc Phát giả và 2.010 kg trà đen Lộc Phát giả gửi ở xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên và xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Giá trị hàng giả tương đương hàng thật là: 321.780.000₫ (Ba trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Số lượng hàng giả Đặng Quốc T2 buôn bán là: Mua của Thạo 90 kg trà Lộc Phát giả (quá trình vận chuyển, cất giữ bị mất 24kg không biết ở đâu) chỉ còn 66kg và 500 kg trà đen Phúc Long giả mua của N, giá trị hàng giả tương đương với hàng thật là: 128.230.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Dương Văn T, Đồng Ngô Minh H1Nguyễn Văn Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ “đầu thú”. Đồng Ngô Minh H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác”.

Các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với Hồ Văn P là người giúp NT3 đặt in bao bì các sản phẩm trà nhãn hiệu Lộc Phát và Phúc L2, do P không biết việc N Và Thông sử dụng bao bì của Công ty mình để sản xuất hàng giả nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với Lê Thị Thu T4 là người giúp N trong việc thực hiện các giao dịch nhận và chuyển tiền qua hệ thống Internet Banking trên điện thoại Smartphone, T4 thực hiện do N nhờ, do T4 với N chung sống như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn nhưng có con chung), việc N thực hiện các giao dịch nhằm sản xuất, buôn bán hàng giả T4 không tham gia và không biết, nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Ô Văn Q là người đặt mua 500kg trà giả nhãn hiệu Phúc Long của T2, Q không biết các sản phẩm đã đặt mua là hàng giả, nên không có căn cứ xử lý đối với Q.

Đối với Nguyễn Văn K là người cho Dương Văn T gửi nhờ 540kg trà giả nhãn hiệu Lộc Phát và ông Nguyễn Duy L1 (bố vợ của Dương Văn T) là người cho T gửi nhờ 1470kg trà giả nhãn hiệu Lộc Phát, do anh K và ông L1 không biết số hàng hóa trên là hàng giả, nên không đồng phạm.

Đối với ông Phạm Phước B1 là người cho T3 thuê nhà ở địa chỉ A Ấp A, đường K, xã T, huyện B, TP Hồ Chí Minh, ông B1 không biết việc T3 thuê nhà để thực hiện hành vi phạm tội nên cũng không có căn cứ để xử lý.

Đối với số hàng hóa là trà giả nhãn hiệu Lộc Phát và P mà Nguyễn Văn Đ mua của Đỗ Trọng N, do Đ không nhớ số lượng bán ra thị trường là bao nhiêu và bán cho ai, Cơ quan Điều tra không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý đối với Đ về hành vi này.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH T8 yêu cầu các bị cáo liên đới chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 341.465.000đ tương đương với giá trị hàng thật.

Công ty CP P2 không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Trọng N. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đồng Ngô Minh H1 và căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn T. Tuyên các bị cáo: Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”; Dương Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả là thực phẩm”. Xử phạt Đỗ Trọng N 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2023; Đồng Ngô Minh Hiếu 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2023 và Dương Văn T 03 (Ba) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023 đến ngày 22/8/2023.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt tù đối với các bị cáo khác không kháng cáo, xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, các bị cáo Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1 kháng cáo xin giảm hình phạt, Dương Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, động cơ mục đích, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đỗ Trọng NĐồng Ngô Minh H1 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai bốn) tháng tù và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Dương Văn T, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận đơn của các bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội như sau:

Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 6/2023, Đỗ Trọng N, Nguyễn Văn T3, Đồng Ngô Minh H1 đã có hành vi sản xuất, buôn bán 2.206kg trà giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8, 500 kg trà giả nhãn hiệu Công ty CP P2, tương đương giá trị hàng thật là 459.930.000đ (bốn trăm năm chín triệu, chín trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó, NT3 thu lời bất chính số tiền: 40.590.000đ (bốn chín triệu, năm trăm chín mươi nghìn đồng), H1 thu lời bất chính số tiền 6.618.000₫ (sáu triệu, sáu trăm mười tám nghìn đồng). Dương Văn T buôn bán 2.076kg trà giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8, tương đương giá trị hàng thật là 321.780.000đ (ba trăm hai mốt triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng), thu lời bất chính số tiền 12.456.000đ (mười hai triệu, bốn trăm năm sáu nghìn đồng). Đặng Quốc T2 mua 90 kg trà giả nhãn hiệu Công ty TNHH T8; mua và bán 500 kg trà giả nhãn hiệu Công ty CP P2, tương đương giá trị hàng thật là 128.230.000đ (một trăm hai tám triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng), thu lời bất chính số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng). Nguyễn Văn Đ giúp sức cho Đỗ Trọng NNguyễn Văn T3 trong việc in bao bì đóng gói 500kg trà giả nhãn hiệu Công ty CP P2, tương đương giá trị hàng thật là 118.000.000đ (một trăm mười tám triệu đồng), thu lời bất chính số tiền 7.500.000đ (bảy triệu, năm trăm nghìn đồng).

[2.1] Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 193 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách quản lý thị trường của Nhà nước, gây mất ổn định môi trường sản xuất kinh doanh, xâm phạm đến quyền và lợi ích của các doanh nghiệp và lợi ích của người tiêu dùng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương ứng với hành vi của các bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1 và xin được hưởng án treo của bị cáo Dương văn T7:

[3.1] Nhận thấy Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo Đồng Ngô Minh H1 có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Dương Văn T trong thời gian được tại ngoại đã cung cấp thông tin về tội phạm cho Đội phòng chống ma tuý Đồn Biên phòng cửa khẩu L3, huyện M, tỉnh Sơn La. Ngày 04/01/2024 Đồn biên phòng cửa khẩu L3 - Bộ đội Biên phòng tỉnh S đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01/QĐ-KTVA về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Có hồ sơ và xác nhận kèm theo) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo H1, T đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính vào ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả thể hiện sự ăn năn hối cải của các bị cáo. Sau khi phạm tội, bị cáo T, H1 đã đầu thú khai báo hành vi phạm tội; quá trình sinh sống đã tích cực tham gia ủng hộ các chương trình thiện nguyện tại đại phương được chính quyền địa phương có xác nhận nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các tình tiết giảm nhẹ nói trên cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Trọng NĐồng Ngô Minh H1 phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo Dương Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[3.2] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cụ thể: Bị cáo Đỗ Trọng N đã nộp đủ toàn bộ số tiền thu lợi bất chính còn lại là 40.590.000đ (bốn mươi triệu, năm trăm chín mưi nghìnđồng) và 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm) tại Biên lai thu tiền số 0000701 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá theo quyết định của Bản án sơ thẩm đã tuyên khi Bản án chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó đã thể hiện sự ăn năn hối cải, hối hận với việc làm của mình. Bị cáo Đồng Ngô Minh H1 có ông và bà ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương. Các bị cáo N, H1T đều có đơn xác nhận và đơn xin được cải tạo tại địa phương, đều có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, con đang còn rất nhỏ, vợ không có công việc hay thu nhập ổn định, đều là lao động chính trong gia đình. Chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận và đề nghị Toà án, Viện kiểm sát xem xét. Đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo, HĐXX cần áp dụng khi xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo.

[3.3] Đối với bị cáo Đỗ Trọng NĐồng Ngô Minh H1, HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều có tình tiết mới quy định tại Điều 51 BLHS nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để các bị cáo thấy được tính nhân đạo và sự khoan hồng của Nhà nước. Mặc dù các bị cáo kháng cáo và đều xuất trình thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, song đều phạm tội nhiều lần có tính chất rất nghiêm trọng nên cần tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên nhận thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm khắc, số hàng hóa các bị cáo sản xuất, buôn bán giả nhãn mác chưa được bán nhiều ra thị trường, chưa ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, số tiền thu lời bất chính không lớn. Hơn nữa tại cấp phúc thẩm các bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên HĐXX cần chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội. Do vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

[3.4] Đối với bị cáo Dương Văn T tại cấp phúc thẩm có xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Chính quyền địa phương xác nhận trước khi phạm tội là công dân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào, đang là lao động chính trong gia đình và đề nghị xem xét cho bị cáo. Mặc dù bị cáo phạm tội nghiêm trọng song bị cáo không tham gia sản xuất hàng giả mà chỉ mua về bán kiếm lời. Bị cáo mua hàng giả về nhưng đang cất giữ, mới bán một lần. Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của bản thân, hứa không vi phạm pháp luật. Hơn nữa có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây ra nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn tại địa phương nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, căn cứ Điều 65 của BLHS giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho được hưởng án treo để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1 và kháng cáo xin được hưởng án treo của Dương Văn T là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX và có căn cứ pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1Dương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đỗ Trọng NĐồng Ngô Minh H1.

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Dương Văn T.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 140/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phần áp dụng hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Trọng NĐồng Ngô Minh H1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”. Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả là thực phẩm”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Trọng N 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/6/2023).

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Khoản 1 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Đồng Ngô Minh H1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/6/2023).

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 193; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T 36 (ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (22/4/2024).

Giao bị cáo Dương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đỗ Trọng N, Đồng Ngô Minh H1Dương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - Công an TP. Thanh Hóa, TH;
  • - TAND, VKSND TP . Thanh Hóa, TH:
  • - Chi cục THADS TP . Thanh Hóa, TH;
  • - UBND xã Lạc Đạo, H. Văn Lâm, T. Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đỗ Trọng N và Đồng Ngô Minh H1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”. Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Buôn bán hàng giả là thực phẩm”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger