Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày: 20 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Khoa

Ông Nguyễn Trung Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 134/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2023/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị H (tên gọi khác: U, Quá M) sinh năm 1953, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Trần Thị D (đã chết); có chồng ông Phạm D1 (đã chết) và 08 con, lớn nhất sinh năm 1975 và con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị Vĩnh T, sinh năm 1965, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); có 01 con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Tấn D3 (tên gọi khác: X) sinh năm 1987, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H1 (sinh năm 1963) và bà Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1967); tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 88a/2007/HS-PT ngày 09/5/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt Nguyễn Tấn D3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích"; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2009; chưa thi hành xong phần án phí và trách nhiệm bồi thường dân sự; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 187/2010/HSST ngày 16/8/2010, của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã xử phạt Nguyễn Tấn D3 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2017; đã thi hành xong phần án phí và hình phạt bổ sung vào ngày 30/3/2023; tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt
  4. Hồ Vũ Phương T2, sinh năm 1976, tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Số A Lý Ông T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quang C (sinh năm 1949) và bà Vũ Thị H3 (sinh năm 1953); có chồng là ông Nguyễn Mạnh H4 (sinh năm 1958); tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 16/2014/HS-PT ngày 22/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt Hồ Vũ Phương T2 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo; chấp hành xong án phí ngày 24/3/2022; tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Thị M1, sinh năm 1951, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D4 (đã chết); có chồng là ông Huỳnh T4 (sinh năm 1949) và 07 con, lớn sinh năm 1969, nhỏ sinh năm 1990; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/HS-ST ngày 29/4/1989 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh đã xử phạt Nguyễn Thị M1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/HS-ST ngày 20/12/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã xử phạt Nguyễn Thị M1 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/1998; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/3/2021, tại trước nhà có địa chỉ số B đường N, phường V, thành phố N, Tổ công tác của Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố N phối hợp với Công an phường V phát hiện Nguyễn Thi H5 cùng Nguyễn Thị Vĩnh T, Nguyễn Tấn D3 đang tổ chức cho Phùng Đình T5, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Văn T6, Phạm Mai T7, Nguyễn Thị Kim L, Phan Huỳnh T8, Nguyễn Tùng L1, Nguyễn Thi Khánh T9, Trần Văn C1, Hồ Vũ Phương T2, Hoàng L2 tham gia đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa tài – xỉu.

Quá trình điều tra, xác định như sau:

Nguyễn Thị H là người tổ chức chiếu bạc, làm cái để cho các con bạc tham gia đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền. Trong quá trình hoạt động, H thuê Nguyễn Thị Vĩnh T làm người xóc dĩa, Nguyễn Tấn D3 làm người chung tiền và “Tý Em” làm người cảnh giới và sẽ trả công theo ngày cho những người này. Theo đó, T được H trả công từ 300.000 đồng - 500.000 đồng/ngày; D3 được trả công từ 150.000 đồng - 200.000 đồng/ngày, “Tý Em” được trả công từ 100.000 đồng - 200.000 đồng/ngày. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/3/2021, H đem dụng cụ đánh bạc đến địa điểm số 02B đường N, phường V, đưa cho D3 số tiền 500.000 đồng để chung chi với các con bạc, H giữ lại 500.000 đồng với mục đích để chung chi khi D3 chi hết tiền. Sau khi chiếu bạc được mở ra, Nguyễn Thị Vĩnh T là người xóc dĩa, nếu nhà cái thắng thì H sẽ là người thu tiền, nếu nhà cái thua thì D3 sẽ là người chi tiền. Để dụ dỗ các con bạc tham gia đặt cược theo, trong quá trình đánh bạc, H đã đặt cược 03 ván, mỗi ván 30.000 đồng. Tại thời điểm bị phát hiện, H đang đặt cược cửa xỉu 30.000 đồng và bị thu giữ số tiền 470.000 đồng có trong người.

Phùng Đình T10: Mang theo số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được 04 ván, mỗi ván cược 50.000 đồng nhưng đều thua. Ván cuối cùng, T10 đang đặt số tiền 50.000 đồng tại cửa xỉu thì bị phát hiện, bắt giữ và bị thu giữ số tiền 50.000 đồng có trong người.

Nguyễn Quốc V: Mang theo số tiền 1.250.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được 03 ván, mỗi ván cược 50.000 đồng nhưng đều thua. Ván cuối, V đang đặt số tiến 50.000 đồng tại cửa tài thì bị phát hiện, bắt giữ và bị thu giữ số tiến 1.050.000 đồng mang có trong người.

Trần Văn C2: Mang theo số tiền 390.000 đồng và đưa cho Nguyễn Thị Khánh T11 số tiền 50.000 đồng để đặt giúp vào cửa tài thì bị phát hiện, bắt giữ khi chưa mở kết quả; bị thu giữ số tiền 340.000 đồng còn lại trong người.

Nguyễn Thị Khánh T11: mang theo số tiền 140.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được 02 ván với số tiền 50.000 đồng mỗi ván, nhưng đều thua. Ván cuối đặt vào cửa tài 40.000 đồng và cũng đặt giúp Trần Văn C1 số tiền 50.000 đồng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Phạm Mai T12: Mang theo số tiền 1.450.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi đang đặt số tiền 100.000 đồng vào cửa tài thì bị phát hiện, bắt giữ và thu giữ số tiền 1.350.000 đồng còn lại trong người.

Hồ Vũ Phương T2: Mang theo số tiền 860.000 đồng, dự định sử dụng 100.000 đồng để tham gia đánh bạc, đặt cược cửa tài số tiền 20.000 đồng chưa mới kết quả thì bị phát hiện và bị thu giữ số tiền 840.000 đồng còn lại trong người.

Nguyễn Thị M1: Mang theo số tiền 1.885.000 đồng, lấy ra 120.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được nhiều ván, mỗi ván cược từ 20.000 đồng – 30.000 đồng, nhưng đều thua. Ván cuối đang đặt cửa xỉu 50.000 đồng thì bị phát hiện nên bỏ chạy và nhặt dược số tiền 500.000 đồng. Sau khi bị bắt giữ đã nộp lại số tiền 500.000 đồng và số tiền 1.765.000 đồng còn lại trong người.

Nguyễn Văn T6: Mang theo số tiền 340.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được 01 ván với số tiền 50.000 đồng và thắng. Ván cuối đang cược cửa xỉu số tiền 50.000 đồng thi bị phát hiện và bị thu giữ số tiền 240.000 đồng.

Nguyễn Thị Kim L: Mang theo số tiền 1.100.000 đồng để tham gia đánh bạc, đã đánh được 5-6 ván và thắng với số tiền 160.000 đồng. Ván cuối chưa kịp đặt tiền thì bị phát hiện, bắt giữ và thu giữ số tiền 1.260.000 đồng.

Hoàng L2: Mang theo số tiền 140.000 đồng, lấy ra 100.000 đồng để đánh bạc, đã đánh được 04 ván và thắng với số tiền 300.000 đồng. Ván cuối cùng chưa kịp đặt tiền thi bị phát hiện nên vứt số tiền 400.000 đồng xuống chiếu bạc. L2 bị thu giữ số tiền 40.000 đồng.

Phan Huỳnh T13: Mang theo số tiền 935.000 đồng ra cầm trên tay số tiền 350.000 đồng, đã đánh được 01 ván với số tiền 50.000 đồng nhưng bị thua. Ván cuối cùng chưa kịp đặt tiền thì bị phát hiện nên vút số tiền 300.000 đồng xuống chiếu bạc. T13 bị thu giữ số tiền 585.000 đồng.

Nguyễn Tùng L1: Mang theo số tiền 1.400.000 đồng, lấy ra 400.000 đồng để đánh bạc, đánh được 6 ván, mỗi ván 50.000 đồng và thắng được số tiền 300.000 đồng. Ván cuối cùng chưa kịp đặt tiền thì bị phát hiện, thu giữ số tiền 700.000 đồng đang cầm trên tay và 1.000.000 đồng trong người.

Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là: Phùng Đình T10 300.000 đồng, Nguyễn Quốc V 1.250.000 đồng, Trần Văn C3 390.000 đồng, Nguyễn Thị Khánh T11 140.000 đồng, Phạm Mai T12 1.450.000 đồng, Hồ Vũ Phương T2 100.000 đồng, Nguyễn Thị M1 120.000 đồng, Nguyễn Văn T6 340.000 đồng, Nguyễn Thị Kim L 1.100.000 đồng, Hoàng L2 100.000 đồng, Phan Huỳnh T13 935.000 đồng, Nguyễn Tùng L1 400.000 đồng. Tổng số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc là 6.625.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 196/CT-VKSNT ngày 14 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn D3 về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Vĩnh T về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo Phan Huỳnh T13, Nguyễn Tùng L1, Nguyễn Thị Khánh T11, Phủng Đình T14, Nguyễn Thị Kim L, Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Văn T6, Phạm Mai T12, Nguyễn Quốc V, Hoàng L2, Trần Văn C1, Nguyễn Thị M1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng “Tý Em”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiếp tục điêutra, xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Tại Bản án số 264/2023/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với c bị cáo Nguyễn Thị H.
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn D3.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Vũ Phương T2.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị M1.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Khánh T11.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Huỳnh T13.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tùng L1.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,2 khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phùng Đình T10.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim L
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T6.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Mai T12.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm í, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc V.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn C1.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tấn D3 05 năm 06 tháng tù, Nguyễn Thị H 01 năm 06 tháng tù, Nguyễn Thị Vĩnh T 01 năm tù, Hồ Vũ Phương T2 01 năm tù, Nguyễn Thị M1 09 tháng tù, Nguyễn Thị Khánh T11 09 tháng tù, đều về tội “Đánh bạc”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt các bị cáo Phan Huỳnh T13, Nguyễn Tùng L1, Phùng Đình T10, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Văn T6, Phạm Mai T12, Nguyễn Quốc V, Hoàng L2, Trần Văn C1 (Lượm); mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 04/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho hưởng án treo.

Ngày 28/9/2023, các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị M1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 26/9/2023, các bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh THồ Vũ Phương T2 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T, Nguyễn Tấn D3, Hồ Vũ Phương T2 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa:

Bị cáo Nguyễn Thị H có đơn rút kháng cáo, đơn rút kháng cáo của bị cáo H đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Bị cáo Nguyễn Thị M1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt của bị cáo M1 không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Thị M1.

Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T, Nguyễn Tấn D3, Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1. Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo mức hình phạt đã phù hợp với vai trò, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

Bị cáo Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn rút kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Thị M1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị M1 không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các bị cáo H, M1 theo quy định tại khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T, Nguyễn Tấn D3, Hồ Vũ Phương T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ đã được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T, Nguyễn Tấn D3 về tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt các bị cáo Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1 về tội “ Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo:

3.1. Xét kháng cáo và rút kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H:

Ngày 04/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho hưởng án treo.

Ngày 05/4/2024 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn rút đơn kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H là tự nguyện, được chính quyền địa phương xác nhận, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

3.2. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị Vĩnh T:

Các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị Vĩnh T là người tham gia giúp sức tích cực trong vụ án, các bị cáo giúp người cầm cái sòng bạc xóc dĩa, chung tiền cho những người tham gia đánh bạc.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn D3 không có phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp giấy xác nhận Liệt sĩ của ông Nguyễn Văn T15 là ông nội của bị cáo, Huy chương vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của bà Nguyễn Thị H6 là bà nội của bị cáo, Huân chương kháng chiến của ông Nguyễn Văn D2 là cha của bị cáo. Do đó, cần áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị Vĩnh T.

3.2. Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1:

Các bị cáo là người đánh bạc, có nhân thân xấu. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với vai trò, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Nguyễn Thị H không phải nộp án phí Hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 348, khoản 1, khoản 2 Điều 355, khoản 1, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Đình chỉ xét xử vụ án hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

    Nội dung xét xử đối với các bị cáo Nguyễn Thị H tại bản án Hình sự sơ thẩm số 264/2023/HSST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa có hiệu lực kể ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị Vĩnh T, Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Căn cứ d khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn D3.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn D3 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Vĩnh T.

    Xử phạt Nguyễn Thị Vĩnh T 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối bị cáo Hồ Vũ Phương T2.

    Xử phạt Hồ Vũ Phương T2 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối bị cáo Nguyễn Thị M1.

    Xử phạt Nguyễn Thị M1 09 (C4) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Nguyễn Tấn D3, Nguyễn Thị Vĩnh T, Hồ Vũ Phương T2, Nguyễn Thị M1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí Hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị H không phải nộp án phí Hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị H; Nguyễn Thị Vĩnh T; Nguyễn Tấn D3; Hồ Vũ Phương T2; Nguyễn Thị M1 Tội "Tổ chức đánh bạc" và tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger