Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-PT

Ngày 12 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương;

Các Thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và ông Nguyễn Đức Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 84/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Trần Minh P; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Minh P, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Tổ I, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Đỗ Thị S; có vợ là Vũ Thị Hà A và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Công ty cổ phần D; địa chỉ trụ sở: 4 X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tài K, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định - Chức vụ: Quản lý khu vực Công ty cổ phần D, chi nhánh P2, Hà Nam; địa chỉ: Số B đường T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:

+ Chị Trần Bích N, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

+ Anh Nguyễn Kông P1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Minh P từng là nhân viên tại bưu cục B đường T, tổ A, phường H, thành phố P thuộc Công ty cổ phần D nhưng do “nợ xấu” nên Trần Minh P không thể tiếp tục ký hợp đồng với Công ty. Ngày 01/6/2023, Trần Minh P nhờ em gái là chị Trần Bích N đứng tên thay làm thủ tục, ký hợp đồng điện tử để cho P được làm nhân viên phát triển thị trường tại Công ty giao hàng nhanh. Khi làm thủ tục ký hợp đồng tại bưu cục số 217A, anh Nguyễn Kông P1 là nhân viên xử lý tại bưu cục 217A biết việc Trần Minh P nhờ Trần Bích N đứng tên ký hợp đồng nhưng vẫn đồng ý để Trần Minh P sử dụng thông tin, tài khoản của Trần Bích N đi làm nhân viên tại Công ty giao hàng nhanh. Công việc của Trần Minh P là đi giao hàng và có trách nhiệm thu tiền của khách hàng, sau đó đến cuối ngày phải bàn giao số tiền đó cho anh Nguyễn Kông P1 để nộp tiền về cho công ty. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên sau khi giao hàng và thu tiền của khách hàng thành công P1 không ấn xác nhận “Đã giao hàng thành công” trên hệ thống phần mềm giao hàng của Công ty giao hàng nhanh để đến cuối ngày không phải bàn giao số tiền đã thu được của khách hàng về cho Công ty. Để che giấu hành vi của mình, Trần Minh P đã lấy số tiền thu được của khách hàng ngày hôm sau để trả bù vào số tiền hàng thu được của ngày hôm trước cho Công ty. Do thấy Trần Minh P nhiều lần chậm thanh toán tiền hàng cho công ty nên ngày 28/11/2023, anh Nguyễn Kông P1 cùng Trần Minh P đã tiến hành kiểm kê lại các đơn hàng mà Trần Minh P đã giao, nhận tiền hàng của khách thành công nhưng chưa trả cho công ty T tiền là 54.954.000 đồng. Trần Minh P đã viết cam kết ngày 01/12/2023 sẽ trả số tiền 30.000.000 đồng và đến ngày 04/12/2023 sẽ trả số tiền 24.954.000 đồng cho Công ty giao hàng nhanh. Ngày 02/12/2023 do đến hẹn trả tiền mà Trần Minh P vẫn chưa trả nên Công ty giao hàng nhanh đã cho Trần Minh P nghỉ việc. Cùng ngày, anh Nguyễn Kông P1 đã yêu cầu Trần Bích NTrần Minh P đến bưu cục 217A Trường Chinh để kiểm kê lại các đơn hàng Trần Minh P đã giao thành công và đã thu tiền từ khách hàng nhưng chưa nộp về công ty từ ngày 28/11/2023 đến ngày 02/12/2023 là 52 đơn hàng với tổng số tiền 58.013.614 đồng. Trần Minh P đã trình bày toàn bộ số tiền này P đã sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân, không có khả năng trả lại cho Công ty.

* Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • - 01 biên bản xác nhận bàn giao hàng đề ngày 02/12/2023; 02 giấy chi tiết phiếu thu đề ngày 02/12/2023; 01 bản cam kết của Trần Minh P; 01 hợp đồng vay tiền; 01 bản cam kết của Trần Bích N, 01 giấy cam kết trả nợ của Trần Bích N.
  • - 07 thông tin đơn hàng có chữ ký của anh Nguyễn Kông P1.
  • - 01 giấy ủy quyền số 938/GUQ-GHN/2024 của Công ty cổ phần D; 01 đơn trình báo số 506/2024/CV-GHN đề ngày 20/5/2024 của Công ty cổ phần D; 01 giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh M (đóng dấu treo của Công ty cổ phần D), 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty cổ phần D (Bản sao); 01 danh sách đơn hàng, 01 danh sách chi tiết chuyến đi; 02 danh sách chi tiết phiếu thu, 01 quy trình làm việc của nhân viên phát triển thị trường toàn quốc của Công ty cổ phần D; 01 hợp đồng dịch vụ số 3057426/HDDV/EXP/2023; 01 bản phô tô ảnh chụp của Trần Bích N; 01 thẻ căn cước công dân phô tô của Trần Bích N; 01 giấy xác nhận thông tin cư trú phô tô của Trần Bích N.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Minh P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Minh P trả cho Công ty giao hàng nhanh số tiền 38.013.614 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí hình sự, dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 05/9/2024, bị cáo Trần Minh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh P từ 24 tháng đến 27 tháng tù; án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Minh P khai nhận hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Trần Minh P không phải là nhân viên công ty nhưng do sự tin tưởng của anh Nguyễn Kông P1 nên bị cáo vẫn được giao việc của Công ty giao hàng nhanh. Trong khoảng thời gian từ 28/11/2023 đến 02/12/2023, lợi dụng sự tín nhiệm của anh Nguyễn Kông P1, Trần Minh P đã có hành vi gian dối không ấn xác nhận giao hàng thành công trên phần mềm giao hàng để chiếm đoạt của Công ty giao hàng nhanh 58 đơn hàng với tổng số tiền là 58.013.614 đồng. Từ nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã tuyên bố bị cáo Trần Minh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã lợi dụng sự tin tưởng để vào làm việc trong công ty; sau đó, dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Trước đó, bị cáo đã bị cho nghỉ việc về hành vi tương tự nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi bản thân mà tiếp tục lấy tên người khác để được tiếp tục vào làm việc. Cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 30 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt còn lại là 38.013.614 đồng và tại phiên tòa, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa. Như vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận; kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Minh P; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Trần Minh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Trần Minh P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Trần Minh P không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Bộ phận HCTP, Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Minh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger