Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 29-8-2024

V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

về ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bạch Nhật Tuyến

Bà Nguyễn Thị Nhàn

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1988 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện C, tỉnh T.

Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thanh T1, sinh năm 1989 (Có mặt);

Địa chỉ: Số E, khóm A, phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T trình bày:

Vợ chồng anh T và chị T1 có tự tìm hiểu nhau, được cha mẹ hai bên đồng ý tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2018 và có đăng ký kết hôn ngày 13/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh T.

Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. Vợ chồng đã ly thân, hiện anh T đang đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng mới về nhà.

Nay anh T nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu ly hôn chị T1. Trường hợp tòa án không cho ly hôn anh T cũng không về chung sống với chị T1 vì tình cảm không còn.

  • - Về nuôi con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Đoàn Tấn L, sinh ngày 31/7/2018, hiện con chung đang sống với chị T1. Khi ly hôn anh T đồng ý để chị T1 tiếp tục được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đoàn Tấn L, anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành 18 tuổi tự lao động sinh sống được.
  • - Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  • - Người khác nợ: không có.
  • - Ngoài ra, anh T không còn yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Đoàn Thị Thanh T1 trình bày:

Về thời gian tìm hiểu, sống chung vợ chồng, đăng ký kết hôn như anh T trình bày chị T1 thống nhất. Theo chị T1 nguyên nhân anh T xin ly hôn là do chồng chị có quen với người khác bên ngoài nhưng chị T1 không có chứng cứ. Hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 cho tới nay.

Nay chị T1 thấy con chị còn nhỏ và tình cảm vẫn còn thương anh T nên chị không đồng ý ly hôn với anh T.

  • - Về con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Đoàn Tấn L, sinh ngày 31/7/2018, hiện con chung đang sống với chị T1.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì chị T1 đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đoàn Tấn L, đồng ý anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành 18 tuổi, tự lao động sinh sống được.

Ngoài ra, chị T1 không còn yêu cầu gì khác.

Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

  • - Về hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.
  • - Về nuôi con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Nguyễn Đoàn Tấn L, sinh ngày 31/7/2018 cho chị T1 tiếp tục được nuôi dưỡng (Hiện con chung đang sống với chị T1).

Chấp nhận sự tự nguyện của anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Đoàn Tấn L mỗi tháng 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi, tự lao động sinh sống được.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Tấn T khởi kiện yêu cầu ly hôn, do đó HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn”. Hiện nay chị T1 cư trú tại thành phố S, tỉnh Đ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Anh Nguyễn Tấn T và chị Đoàn Thị Thanh T1 chung sống vợ chồng từ năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh T. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng giữa anh T, chị T1 thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng đi làm lo cho cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng từ tỉnh Đ về thành phố S sinh sống một thời gian, sau đó anh T quay lại thành phố Hồ Chí Minh để đi làm, còn chị T1 vẫn ở tại nhà cha mẹ ở S thì cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau trong thời gian anh T sống xa nhà để đi làm, phía anh T cho rằng chị T1 thường hay đăng những hình ảnh không đúng về anh T lên mạng xã hội, gây ảnh hưởng đến uy tín và công việc làm của anh T; trong khi chị T1 cho rằng anh T đi làm quen với người phụ nữ khác bên ngoài, mặc dù chị T1 không có chứng cứ, nhưng theo chị T1 có người nhắn tin cho chị T1 nói quen với anh T. Từ đó, mỗi lần anh T đi làm về thì vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước. Hiện anh T và chị T1 đã sống ly thân với nhau thời gian khoảng 3 tháng, anh T đi làm cũng không về thăm vợ con. Hiện vợ chồng mỗi người có cuộc sống riêng, không con quan tâm, chăm sóc cho nhau. Theo anh T trường hợp Tòa án giải quyết không cho ly hôn thì anh cũng không về chung sống với chị T1 vì không còn tình cảm và vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được.

[2.2] Đối với chị T1 cũng thừa nhận rằng trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, hiện vợ chồng đã không còn chung sống, chị T1 cũng đã nhiều lần khuyên anh T quay về chung sống, đoàn tụ vợ chồng nhưng không có kết quả. Hiện tình cảm chị T1 vẫn còn thương anh T, nhưng không có biện pháp nào khác để cho vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn.

[2.3] Tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.

HĐXX xét thấy hiện vợ chồng anh T, chị T1 đã không còn chung sống thời gian hơn 3 tháng, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau. Đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong hôn nhân: vợ chồng có nghĩa vụ, trách nhiệm chung sống với nhau, cùng quan tâm chăm sóc cho nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, HĐXX cũng đã phân tích, giải thích, động viên vợ chồng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ nhưng anh T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn chị T1.

Từ đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T, chị T1 đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau. Nếu anh T, chị T1 đoàn tụ tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc anh T yêu cầu được ly hôn chị T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh T, chị T1 có 01 con chung: Nguyễn Đoàn Tấn L, sinh ngày 31/7/2018, hiện con chung đang sống với chị T1. Khi ly hôn anh T đồng ý để chị T1 tiếp tục được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đoàn Tấn L, anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

HĐXX thấy rằng hiện cháu Nguyễn Đoàn Tấn L còn nhỏ, đang sống với chị T1. Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa chị T1 trình bày trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì chị T1 đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đoàn Tấn L, đồng ý anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành 18 tuổi tự lao động sinh sống được.

Do đó giao cháu Nguyễn Đoàn Tấn L cho chị T1 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như ý kiến thống nhất thỏa thuận giữa chị T1 và anh T. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được quyền cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét việc anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Đoàn Tấn L mỗi tháng số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành 18 tuổi, tự lao động sinh sống được là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh Tài, chị T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử thống nhất.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Tấn T. Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Tấn T và chị Đoàn Thị Thanh T1.
  2. Về nuôi con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của anh T, chị T1 về việc nuôi con chung:

    Giao cho chị Đoàn Thị Thanh T1 được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Đoàn Tấn Lộc, sinh ngày 31/7/2018 (Hiện con chung đang sống với chị T1).

    Anh Nguyễn Tấn T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của anh T cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Đoàn Tấn L mỗi tháng số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng), thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Đoàn Tấn L trưởng thành đủ 18 tuổi, tự lao động sinh sống được.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Nguyễn Tấn T nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ anh T đã nộp ngày 31/7/2024 theo biên lai thu số 0007791 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ anh T còn phải nộp tiếp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Minh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bên a cho ly hôn giữa hai bên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger