TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/DS-ST Ngày: 26-7-2024 V/v tranh chấp “hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thống;
Bà Tạ Huyền Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Diễm Quỳnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Võ Minh Đ, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Áp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1965 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị N1 (tên gọi khác: Đỗ Kim N2), sinh năm 1968 (vợ ông N, xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn, ông Võ Minh Đ trình bày:
Ông Võ Minh Đ có tham gia 01 chân hụi do ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 làm chủ, hụi mở ngày 25/12/2014 âm lịch, loại hụi 500.000 đồng, hụi gồm 30 chân, hụi mỗi tháng khui 02 lần, hụi chết 24 lần x 500.000 đồng bằng 12.000.000 đồng, trừ tiền cò 300.000 đồng, đóng hụi chết (đấp đuôi lại) 03 kỳ là 1.500.000 đồng, còn lại là 10.200.000 đồng. Nay ông Võ Minh Đ khởi kiện buộc vợ chồng ông N và bà N1 phải thanh toán số tiền hụi còn nợ là 10.200.000 đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 25/6/2024, bị đơn – Bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Ông Đ có tham gia 01 chân hụi loại hụi 500.000 đồng, hụi mở ngày 25/12/2014 âm lịch, trong danh sách hụi ở vị trí 16, hụi gồm 30 chân, hụi khui 02 kỳ mỗi tháng, vào ngày 10, 25 hàng tháng; hụi mở đến kỳ thứ 24 thì đình (vào tháng 11/2015), sau khi đình hụi thì bà N1 có mời các hụi viên đến để đối chiếu nợ, bà N1 xác định còn nợ ông Đ 10.200.000 đồng và đồng ý thanh toán số nợ này. Do hụi mở tại nhà nên ông N có biết và đồng ý cho bà N1 mở hụi. Khi bà N1 đình hụi, ông N buồn nên bỏ đi làm ở tỉnh Đồng Nai nhưng khi biết bà N1 nợ hụi nhiều người thì ông N đã đồng ý cùng bà N1 cố đất thanh toán một phần nợ cho các hụi viên.
* Đối với bị đơn - Ông Lê Văn N: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông N không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ông Đ yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Lê Văn N vẫn vắng mặt 03 lần không có lý do.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn – Ông Võ Minh Đ trình bày: Bảo lưu yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Về phần thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật nên không có kiến nghị. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh Đ, buộc ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền nợ hụi là 10.200.000 đồng theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Võ Minh Đ khởi kiện buộc vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (Đỗ Kim N2) thanh toán tiền hụi còn nợ nên xác định đây là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; ông N và bà N2 cư trú tại ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau và vụ án không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị N1 có yêu cầu vắng mặt phiên xét xử vì đang đi làm việc ở xa, hoàn cảnh khó khăn nên không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, yêu cầu này của bà N1 là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Lê Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần (03 lần) nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên xét xử vắng mặt ông N theo quy định điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án.
Bà Nguyễn Thị N1 là đầu thảo, chủ hụi ở địa phương, năm 2014 bà mở nhiều dây hụi, ông Võ Minh Đ tham gia 01 chân hụi ở 01 dây hụi, loại hụi có lãi, chủ hụi được hưởng huê hồng (tiền cò). Khi mở hụi, bà N1 có giao danh sách hụi cho các hụi viên. Quá trình giao dịch hụi, bà N1 đình hụi nhưng không trả lại tiền góp vào của các hụi viên nên các bên xảy ra tranh chấp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Võ Minh Đ có tham gia 01 chân hụi do bà Nguyễn Thị N1 mở ngày 25/12/2014 âm lịch, loại hụi 500.000 đồng, trong danh sách hụi ở vị trí 16, hụi gồm 30 chân, hụi khui mỗi tháng 02 kỳ vào ngày 10, 25 hàng tháng; hụi mở đến kỳ thứ 24 thì đình (vào tháng 11/2015), sau khi đình hụi thì bà N1 có mời các hụi viên đến để đối chiếu nợ, bà N1 xác định còn nợ ông Đ 10.200.000 đồng và đồng ý thanh toán số nợ này. Riêng ông Lê Văn N không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu thanh toán tiền hụi của ông Đ. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc giao dịch hụi giữa ông Võ Minh Đ và bà Nguyễn Thị N1 là thực tế có xảy ra.
Về trách nhiệm trả nợ.
Ông Võ Minh Đ buộc vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 cùng thanh toán cho ông số tiền nợ hụi là 10.200.000 đồng, yêu cầu này của ông Đ là có căn cứ vì số tiền nợ hụi được bà N1 thừa nhận và đồng ý thanh toán. Ông Lê Văn N không có ý kiến; bà N1 xác định do hụi mở tại nhà nên ông N có biết và đồng ý cho bà N1 mở hụi. Khi bà N1 đình hụi, ông N đã đồng ý cùng bà N1 cố đất thanh toán nợ một phần nợ cho các hụi viên. Ngoài ra, khoản nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà N1 và ông N vì vậy có đủ căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của bà N1 và ông N.
Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Minh Đ buộc vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền nợ hụi là 10.200.000 đồng theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 17, 23, 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; các điều 27, 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày ông Võ Minh Đ có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 chậm thanh toán cho ông Đ số tiền nêu trên thì hàng tháng vợ chồng ông N và bà N1 còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của ông Đ được chấp nhận nên ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Đ không phải chịu án phí sơ thẩm và được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên được chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 147, 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự; các điều 27, 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17, 23, 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Buộc vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (Đỗ Kim N2) có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Võ Minh Đ số tiền hụi còn nợ là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Võ Minh Đ có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 chậm thanh toán cho ông Đ số tiền nêu trên thì hàng tháng ông N và bà N1 còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%.
Vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (Đỗ Kim N2) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 510.000 đồng.
Ông Võ Minh Đ không phải chịu án phí. Ông Đ được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0016326 ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Diệu Hiền |
Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 62/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc vợ chồng ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (Đỗ Kim N2) có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Võ Minh Đ số tiền hụi còn nợ
