|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/DS-ST
Ngày: 22 – 7 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Nguyễn Thị Nhàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 và ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1
Trụ sở: Số B - 268, N, phường V, Quận C, Thành phố H.
Người đại diện ủy quyền: Anh Trần Thanh T – sinh năm 1996; Chuyên viên khách hàng - Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh Đ. Địa chỉ: A - A5-A6, Nguyễn Sinh S, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Phước T1, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Số E, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa: Có mặt anh T đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 có mặt. Bị đơn anh T1 vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa anh Trần Thanh T, đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 – Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) có cho anh Nguyễn Phước T1 vay vốn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020, hạn mức thẻ 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng); Thời hạn thẻ từ tháng 03/2020 đến tháng 03/2025; Lãi suất trong hạn tại thời điểm ký 2,6%/tháng; Biện pháp bảo đảm tiền vay tín chấp (Không tài sản đảm bảo)
Ngày 23/03/2023, anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn; Ngân hàng nhiều lần làm việc để yêu cầu anh T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn nhưng đến nay anh T1 vẫn chưa thanh toán, vi phạm các điều khoản đã quy định theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký kết.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh T1 trả tổng số tiền vốn gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/3/2024 là 21.708.266 đồng, trong đó dư nợ gốc 16.048.541 đồng, tiền lãi quá hạn 5.659.725 đồng; Tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn phát sinh từ ngày 05/03/2024 cho đến thanh toán xong theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020.
Ngoài ra, Ngân hàng không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Phước T1: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh T1 trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/3/2024 là 21.708.266 đồng, trong đó dư nợ gốc 16.048.541 đồng, tiền lãi quá hạn 5.659.725 đồng; Tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn phát sinh từ ngày 05/03/2024 cho đến thanh toán xong theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng. Bị đơn anh Nguyễn Phước T1 hiện cư trú tại xã T, thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Phước T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 về việc yêu cầu anh Nguyễn Phước T1 trả tổng số tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày 04/3/2024 là 21.708.266 đồng, trong đó dư nợ gốc 16.048.541 đồng, tiền lãi quá hạn 5.659.725 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về xác lập Hợp đồng và nợ gốc
Căn cứ nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020 thể hiện: Ngân hàng đồng ý cấp Thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng); Thời hạn thẻ từ tháng 03/2020 đến tháng 03/2025; Lãi suất trong hạn tại thời điểm ký 2,6%/tháng, hình thức vay tín chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 23/03/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn theo Hợp đồng đã ký kết.
Đối với bị đơn anh T1 qua xác minh hiện đang sinh sống tại địa chỉ số E, ấp P, xã T, thành phố S. Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng anh T1 không đến Toà án; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có ý kiến phản bác về tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Toà án nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
Như vậy, căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020 xác định giữa Ngân hàng và anh T1 có xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên việc Ngân hàng yêu cầu anh T1 trả số tiền nợ gốc 16.048.541 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3.2]. Về lãi suất vay: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp
3
đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 2,6%/tháng. Sự thỏa thuận của các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Nên việc Ngân hàng yêu cầu anh T1 trả lãi tính đến ngày 04/3/2024 là 5.659.725 đồng; Tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 05/3/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng là có căn cứ chấp nhận.
[4] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ như đã nhận định trên.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T1 chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ L
- - Căn cứ Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
- - Buộc anh Nguyễn Phước T1 trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền nợ gốc là 16.048.541 đồng, nợ lãi quá hạn 5.659.725 đồng. Tổng cộng số nợ phải trả tính đến ngày 04/3/2024 là 21.708.266 đồng (Hai mươi mốt triệu, bảy trăm lẽ tám ngàn, hai trăm sáu mươi sáu đồng).
- - Anh Nguyễn Phước T1 tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền dư nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 05/3/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1451114 ngày 31/03/2020.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Anh Nguyễn Phước T1 phải chịu 1.085.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 543.000 đồng theo biên lai số 0004071 ngày 26/03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
4
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy |
5
Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 62/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bên a yêu cầu bên b trả số tiền vay
