TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày 27/10/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông: Trần Hành
2. Ông: Nguyễn Văn Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2023/TLST-HS ngày 03/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 16/10/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1975. Quê quán: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 5/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng. Con ông: Nguyễn Y; Sinh năm 1954. Con bà: Phạm Thị H; Sinh năm 1954. Cả bố và mẹ đều lao động tự do, trú quán tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ nhất. Chồng: Nguyễn Anh T; Sinh năm: 1974. Nghề nghiệp: lao động tự do và trú quán tại Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Con: 03 đứa, đứa lớn sinh năm 1995, đứa nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Quá trình nhân thân: Ngày 14/3/2018, bị Công an phường S, thị xã K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép, theo Quyết định xử phạt hành chính số 257/QĐ-XPVPHC; đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính và đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 26/5/2023 cho đến nay(Có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Hồng S; sinh năm 1997; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Dương Thị H1; sinh năm 1962; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Phạm Ngọc T1; sinh năm 1959; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Dương Quang H2; sinh năm 1977; nghề nghiệp: Lái xe; trú tại tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Nguyễn Tiến Q; sinh năm 1979; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Nguyễn Thị T2; sinh năm 1973; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18 giờ 40 phút ngày 17/5/2023 (đã có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết M), sau khi phát hiện Dương Thị H1, ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K đánh “Đề” với Nguyễn Thị N; qua lời khai của Dương Thị H1, Cơ quan điều tra Công an thị xã K tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Thị N, ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K đã phát hiện và thu giữ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung của Nguyễn Thị N, trong điện thoại lưu giữ hình ảnh của 03 bảng “Đề” mà Nguyễn Thị N ghi lô đề của những người đánh “Đề” rồi chụp lại, lưu vào trong điện thoại và các tin nhắn của những người đánh “Đ” nhắn tin đến Nguyễn Thị N để đánh “Đề”.
Quá trình điều tra xác định: Lợi dụng kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, Nguyễn Thị N đã làm “Chủ Đề” để đánh “Đề” với những người đánh bạc trên địa bàn. Việc đánh bạc của Nguyễn Thị N dưới hình thức đánh “Đề” dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào hồi 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày làm căn cứ đối chiếu để phân định thắng, thua. Trên cơ sở kết quả xổ số Miền B mở thưởng, có các hình thức đánh “Đề” bao gồm: “Lô” là đánh 02 số cuối cùng của tất cả các giải thưởng (một điểm lô tương ứng với 23.000đ); “Đề” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Ba càng” là đánh 03 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Xiên 2” là đánh chuỗi 02 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Xiên 3” là đánh chuỗi 03 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Xiên 4” là đánh chuỗi 04 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Đầu” là đánh số thứ tư của giải đặc biệt, cùng với số cuối là tất cả các số từ 0 đến 9; “Đít” là đánh số cuối cùng của giải đặc biệt cùng với số liền trước đó, từ 0 đến 09. Khi người chơi đánh số Lô, Đ, Ba càng, X, Đ1, Đ2, trùng với số tương ứng theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc của ngày hôm đó thì thắng, không trùng thì thua. Nếu thắng “Đề” thì tỷ lệ là 01 ăn 70 lần; nếu thắng “Đầu” hoặc “Đít” thì tỷ lệ là 01 ăn 07 lần; thắng 01 điểm “Lô” ăn 80.000đ; thắng “Ba càng” tỷ lệ là 01 ăn 350 lần; thắng “Xiên 2” tỷ lệ là 01 ăn 10 lần; thắng “Xiên 3” tỷ lệ là 01 ăn 40 lần; thắng “Xiên 4” tỷ lệ là 01 ăn 100 lần.
2
Nếu thua thì người tham gia đánh bạc phải trả cho “Chủ Đề” bằng số tiền mình đã đánh, ngược lại nếu thắng thì “Chủ Đề” phải trả cho người đánh đề theo tỷ lệ quy định nêu trên.
Ngày 17/5/2023 tại nhà ở của mình, ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, Nguyễn Thị N trực tiếp ghi “Đề” cho Dương Thị H1, Phạm Ngọc T1 và Dương Quang H2, đều ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K; Nguyễn Tiến Q1, ở xã K, huyện K và một số người không quen biết, không biết họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Thị N ghi số L, Đề của người đánh vào một tờ giấy (gọi là Bảng đề) và ghi số L, Đ của người đánh vào một mảnh giấy và đưa cho họ để làm căn cứ đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B đã mở thưởng. Đối với những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại thì Nguyễn Thị N lưu tin nhắn trên điện thoại làm căn cứ đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán sau khi mở thưởng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị N trực tiếp đánh bạc với những người đánh “Đề” (tiền đánh Đ) là 7.610.000đ, trong đó: T3 đánh Đề 3.405.000đ; tiền đánh Lô 1.955.000đ; tiền đánh Xiên 2.250.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng trong ngày 17/5/2023 thì tổng số tiền những người đánh “Đề” trúng thưởng là 3.070.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị N được xác định là 7.610.000đ + 3.070.000₫ = 10.680.000₫.
Số tiền đánh bạc của những người trực tiếp đánh “Đề” với Nguyễn Thị N (cả tiền đánh đề và tiền trúng thưởng) bao gồm: Dương Thị H1 165.000đ; Dương Quang H2 (đánh Đề qua tin nhắn điện thoại) 660.000đ; Phạm Ngọc T1 190.000đ; Nguyễn Tiến Q1 (đánh Đề qua tin nhắn điện thoại) 2.740.000đ và tổng số tiền đánh bạc của nhiều người đến đánh “Đề” với Nguyễn Thị N nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ là 6.925.000đ. Nguyễn Thị N đã thu tiền của những người trực tiếp đánh “Đề” và những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại; còn số tiền trúng thưởng Nguyễn Thị N chưa thanh toán cho những người trúng “Đề”.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị N còn khai nhận: Sau khi ghi số “Đề” xong, Nguyễn Thị N ghi những số “Đề” của những người đánh trực tiếp vào 03 tờ giấy (gọi là Bảng đề) và dùng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 của mình chụp 01 Bảng đề với tổng số tiền đánh “Đề” là 755.000đ và gửi lên nhóm Z “Vh”, còn những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại thì N gửi tin nhắn đó lên nhóm Z “Vh” để đánh “Đề” với Nguyễn Thị T2; còn lại 02 Bảng đề với tổng số tiền đánh “Đề” là 4.435.000đ (tiền trúng thưởng của 02 Bảng đề này là 350.000đ), do bận bán hàng nên Nguyễn Thị N đưa điện thoại của mình cho con trai là Nguyễn Hồng S để nhờ S cộng tổng số tiền đánh “Đề” và ghi vào cuối mỗi Bảng đề, chụp vào điện thoại di động của Nguyễn Thị N rồi gửi vào tài khoản Z “Vh” và Nguyễn Hồng S đã thực hiện theo yêu cầu của Nguyễn Thị N. Sau khi sự việc bị phát hiện chủ tài khoản nhóm Zalo “Vh” đã xóa nhóm Z “Vh” nói trên, đồng thời Nguyễn Thị T2 không thừa nhận mình đánh “Đề” với Nguyễn Thị N. Riêng Nguyễn Hồng S không biết ngày 17/5/2023, Nguyễn Thị N đánh “Đề” với khách hàng mà sau khi Nguyễn Thị N đưa 02 bảng Đề nhờ chụp và gửi lên nhóm Z “Vh” thì S thực hiện theo yêu cầu của N.
3
Nếu thua thì người tham gia đánh bạc phải trả cho “Chủ Đề” bằng số tiền mình đã đánh, ngược lại nếu thắng thì “Chủ Đề” phải trả cho người đánh đề theo tỷ lệ quy định nêu trên.
Ngày 17/5/2023 tại nhà ở của mình, ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, Nguyễn Thị N trực tiếp ghi “Đề” cho Dương Thị H1, Phạm Ngọc T1 và Dương Quang H2, đều ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K; Nguyễn Tiến Q1, ở xã K, huyện K và một số người không quen biết, không biết họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Thị N ghi số L, Đề của người đánh vào một tờ giấy (gọi là Bảng đề) và ghi số L, Đ của người đánh vào một mảnh giấy và đưa cho họ để làm căn cứ đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B đã mở thưởng. Đối với những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại thì Nguyễn Thị N lưu tin nhắn trên điện thoại làm căn cứ đối chiếu kết quả thắng thua và thanh toán sau khi mở thưởng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị N trực tiếp đánh bạc với những người đánh “Đề” (tiền đánh Đ) là 7.610.000đ, trong đó: T3 đánh Đề 3.405.000đ; tiền đánh Lô 1.955.000đ; tiền đánh Xiên 2.250.000đ. Đối chiếu kết quả mở thưởng trong ngày 17/5/2023 thì tổng số tiền những người đánh “Đề” trúng thưởng là 3.070.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị N được xác định là 7.610.000đ + 3.070.000₫ = 10.680.000₫.
Số tiền đánh bạc của những người trực tiếp đánh “Đề” với Nguyễn Thị N (cả tiền đánh đề và tiền trúng thưởng) bao gồm: Dương Thị H1 165.000đ; Dương Quang H2 (đánh Đề qua tin nhắn điện thoại) 660.000đ; Phạm Ngọc T1 190.000đ; Nguyễn Tiến Q1 (đánh Đề qua tin nhắn điện thoại) 2.740.000đ và tổng số tiền đánh bạc của nhiều người đến đánh “Đề” với Nguyễn Thị N nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ là 6.925.000đ. Nguyễn Thị N đã thu tiền của những người trực tiếp đánh “Đề” và những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại; còn số tiền trúng thưởng Nguyễn Thị N chưa thanh toán cho những người trúng “Đề”.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị N còn khai nhận: Sau khi ghi số “Đề” xong, Nguyễn Thị N ghi những số “Đề” của những người đánh trực tiếp vào 03 tờ giấy (gọi là Bảng đề) và dùng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 của mình chụp 01 Bảng đề với tổng số tiền đánh “Đề” là 755.000đ và gửi lên nhóm Z “Vh”, còn những người đánh “Đề” qua tin nhắn điện thoại thì N gửi tin nhắn đó lên nhóm Z “Vh” để đánh “Đề” với Nguyễn Thị T2; còn lại 02 Bảng đề với tổng số tiền đánh “Đề” là 4.435.000đ (tiền trúng thưởng của 02 Bảng đề này là 350.000đ), do bận bán hàng nên Nguyễn Thị N đưa điện thoại của mình cho con trai là Nguyễn Hồng S để nhờ S cộng tổng số tiền đánh “Đề” và ghi vào cuối mỗi Bảng đề, chụp vào điện thoại di động của Nguyễn Thị N rồi gửi vào tài khoản Z “Vh” và Nguyễn Hồng S đã thực hiện theo yêu cầu của Nguyễn Thị N. Sau khi sự việc bị phát hiện chủ tài khoản nhóm Zalo “Vh” đã xóa nhóm Z “Vh” nói trên, đồng thời Nguyễn Thị T2 không thừa nhận mình đánh “Đề” với Nguyễn Thị N. Riêng Nguyễn Hồng S không biết ngày 17/5/2023, Nguyễn Thị N đánh “Đề” với khách hàng mà sau khi Nguyễn Thị N đưa 02 bảng Đề nhờ chụp và gửi lên nhóm Z “Vh” thì S thực hiện theo yêu cầu của N.
3
Với hành vi trên, Cáo trạng số 60/CT - VKSTXKA ngày 29 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa;
Bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và nhất trí với quyết định truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội: “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1, Điều 321, Đ3 i Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị N mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt tiền. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, điểm b điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc: 10.680.000đ; Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S1 A03, màu đen, số IMEI 1: 351027678644301, số IMEI 2: 351263208644301; và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu tím, số xê-ri 354579054397380.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng bị cáo: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, điều tra viên, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản kiểm tra đồ vật, tài liệu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 17/5/2023, tại nhà của mình ở Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Thị N đã đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Đề” cho Dương Thị H1, Dương Quang H2, Phạm Ngọc T1, Nguyễn
4
Tiến Q1 và một số người không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, với tổng số tiền đánh bạc được xác định là 10.680.000đ. Đến 18 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi phát hiện Nguyễn Thị N đánh bạc, Tổ công tác Công an thị xã K đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Thị N, thu giữ một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 có chứa các thông tin liên quan đến việc đánh bạc trái phép của Nguyễn Thị N.
Với hành vi nêu trên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã truy tố và đề nghị Tòa án thị xã Kỳ Anh đưa ra xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, lỗi trong vụ án này là lỗi cố ý trực tiếp. Xét về hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người có nhận thức, nhưng do hám lợi bị cáo Nguyễn Thị N đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức “Lô, Đ” nhằm mục đích hưởng lợi. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự an ninh, chính trị tại địa phương mà còn gây tác động xấu đến mọi người xung quanh, dẫn dắt mọi người đi vào con đường phạm tội. Nếu không kịp thời xử lý sẽ dẫn đến tình trạng nhân rộng tội phạm. Nên cần phải xử lý nghiêm, nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo không vi phạm tình tiết định khung nên chỉ bị xét xử ở Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ; bị cáo đang nuôi con đẻ là người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội theo Quyết định số 3873 ngày 02/07/2021 của UBND thị xã K và 02 cháu của con đẻ khuyết tật không có bố. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn được UBND phường H xác nhận; bản thân có bệnh án tiền sử bệnh trầm cảm; có bố mẹ chồng tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Những tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại Điểm i, Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Sau khi xem xét hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Kỳ Anh, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản thân bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rỏ ràng, luôn chấp hành đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang nuôi con đẻ là người khuyết tật, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Khoản 1và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa
5
là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; và phù hợp với Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn. Nên cần căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo và xử bị cáo mức án khởi điểm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: Gia định bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân không có nghề nghiệp, đang nuôi con đẻ là người khuyết tật nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với Dương Thị H1, Dương Quang H2, Phạm Ngọc T1, Nguyễn Tiến Q1 đã đánh bạc với Nguyễn Thị N, nhưng số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000₫ và chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi không cấu thành tội phạm, Công an thị xã K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với những người khác đã đánh bạc với Nguyễn Thị N, do Nguyễn Thị N không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xác định.
Đối với Nguyễn Thị T2 theo lời khai của Nguyễn Thị N là đã đánh bạc với N nhưng do nhóm Z “Vh” đã bị xóa, không có thông tin; đồng thời Nguyễn Thị T2 không thừa nhận đánh bạc với Nguyễn Thị N nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Hồng S là người đã chụp hai bảng đề gửi lên nhóm Z “Vh” để giúp Nguyễn Thị N đánh bạc, nhưng do Nguyễn Hồng S không tham gia và không biết Nguyễn Thị N đánh bạc; mặt khác số tiền đánh bạc (kể cả tiền trúng thưởng) được ghi trong 02 bảng đề mà Nguyễn Hồng S đã cộng tổng, chụp ảnh lưu trên điện thoại di động và gửi lên nhóm Z “Vh” dưới 5.000.000đ và chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi không cấu thành tội phạm, Công an thị xã K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K thu giữ: Thu của Nguyễn Thị N 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu đen, số IMEI 1: 351027678644301, số IMEI 2: 351263208644301; thu của Nguyễn Tiến Q1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu tím, số xê-ri 354579054397380. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 03 tờ giấy ô ly mà Nguyễn Thị N đã ghi các số “Đề”, sau khi dùng điện thoại di động chụp ảnh và hình ảnh đã được gửi lên nhóm Zalo “Vh", do Nguyễn Thị N đã hủy bỏ 03 tờ giấy này; chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của Dương Quang H2 sử dụng để nhắn tin ghi số “Đề” với Nguyễn Thị N, do H2 đã đập vỡ rồi vứt đi nên không thu hồi được nên không xem xét.
Căn cứ Điểm a, Đ3 b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng nói trên.
* Biện pháp tư pháp: Tịch thu ở bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 10.680.000₫ để sung ngân sách Nhà nước.
6
[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1, Điều 321; Điểm i, Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điểm a, Đ3 b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị N phạm tội: “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Xử phạt; Nguyễn Thị N 9(Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã K, Tĩnh H, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự 02(Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của bộ luật này.
- Về vật chứng:
* Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S1 A03, màu đen, số IMEI 1: 351027678644301, số IMEI 2: 351263208644301; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu tím, số xê-ri 354579054397380, máy đã qua sử dụng.
(Vật chứng có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2023).
* Về biện pháp tư pháp: Tịch thu ở bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 10.680.000đ(Mười triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
7
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND, VKSND, Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Công an, VKSND, Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh; - UBND phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hương |
8
Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về đánh bạc
- Số bản án: 62/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 62
