TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 26/10/2023. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Tạ Quang Đức.
- 2/ Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Nguyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
- 1/ Họ và tên: Ngô Thanh X, sinh ngày 22/11/2001. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn G, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; Bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1996; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện P, thành phố Cần Thơ.
- 2/ Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 09/7/1994. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; bị cáo có 01 người chị, sinh năm 1992, vợ Trần Thị Linh C, sinh năm 2000, con Nguyễn Trần Lan P, sinh năm 2021;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.
*Bị hại: Ông Lâm Văn N1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1973.
Nơi thường trú: 49A4, khu vực 2, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên hệ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- 2/ Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1987.
Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
- 3/ Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1965.
Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định, không có thu nhập, cần tiền để sử dụng ma túy nên Ngô Thanh X nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Ngô Thanh X đã thực hiện trộm cắp tài sản của Lâm Văn N1 thuộc ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Cụ thể:
Vụ 1: Vào khoảng 19 giờ đêm ngày 08/09/2022 X đến nhà (chòi dùng để canh giữ vườn không có người trông coi) của ông Lâm Văn N1, mở khóa vào nhà, X đi đến giường ngủ mở cửa tủ giường ra lấy 04 điện thoại di động (02 điện thoại loại bàn phím và 02 điện thoại màn hình cảm ứng) bỏ vào túi quần, rồi X lấy chìa khóa (cờ lê) gần đó vặn mở ốc - bu lông 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, hiệu Yanmar gắn cùng với máy bơm nén và 01 máy phát cỏ đã qua sử dụng màu nâu-đỏ-đen, dài 1,75m, có gắn lưỡi cắt cỏ bằng kim loại hiệu ZENDAN –KOMATSU ra khỏi chân đế bằng sắt, chân đế được ông N1 dùng xích sắt khóa lại. Sau khi mở được đầu máy bơm ra khỏi chân đế X đem 04 điện thoại di động, 01 máy phát cỏ đến nhà S, 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, hiệu Yanmar về nhà ông Lê Kim S ngụ cùng ấp cất giữ. Thời điểm này trong nhà của ông S chỉ có một mình ông Dương Văn R, X nói với ông R đây là tài sản do mình lấy trộm mà có, sau đó X đi về nhà mình. Đến sáng hôm sau X đem 04 điện thoại di động đem bán cho Nguyễn Ngọc H với số tiền 700.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, X gặp Nguyễn Văn T (là bạn quen biết với nhau) kêu bán tài sản là đầu máy xăng và máy phát cỏ với giá 2.500.000 đồng, X hẹn T đến nhà của ông S để xem tài sản, T trả giá 1.500.000 đồng thì X đồng ý bán. Đến tối Tân đi đến nhà ông S đậu xe ngoài lộ, T đem máy xăng và máy phát cỏ ra xe thì gặp Nguyễn Văn T2 đi bộ về nhà, T nhờ T2 cầm giùm máy phát cỏ về đến nhà T, T2 đi về nhà T2.
Lần 2: Đến khoảng 21 giờ ngày 09/9/2022, X tiếp tục đi vào nhà của ông N1 lấy trộm 01 đầu máy dạng máy nén đã qua sử dụng hiệu Guan Chang GC-26, 1HP.3PS màu đỏ, kích thước 35 x 35 x 20 cm; 01 ống nhựa màu vàng có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại dài 47,6m, đường kính 1,4cm đã qua sử dụng; 01 dây cuaro màu đen nhãn hiệu MITSUBA, ký hiệu RECMF 6370 đường kính 30cm, dày 1cm đã qua sử dụng. Sau khi lấy xong tài sản X đem cất giấu ở ngoài chòi (không người trông coi) của ông Trần Văn C1 (tên thường gọi là N2). Đến trưa ngày 10/9/2022 X điện thoại kêu bán cho T 01 máy nén, 01 ống dây nhựa và 01 dây cuaro với giá 500.000 đồng, T trả giá 300.000 đồng thì X đồng ý. X nói máy và cuộn dây để ở chòi của ông N2 kêu T ra đó lấy (Bút lục 132). Đến tối, T đến chòi ông N2 và chở máy nén, cuộn dây nhựa và dây cuaro về nhà, T trả đủ số tiền 300.000 đồng cho X.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐ ĐGTS ngày 09/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện P kết luận:
- 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen đã qua sử dung, hiệu Yanmar, kích thước 40 x 30 x 30 cm, giá trị 1.750.000 đồng
- 01 đầu máy dạng máy nén đã qua sử dụng hiệu Guan Chang GC-26, 1HP.3PS màu đỏ, kích thước 35 x 35 x 20 cm, giá trị 550.000 đồng
- 01 máy phát cỏ đã qua sử dụng màu nâu-đỏ-đen, dài 1,75m; có gắn lưỡi cắt cỏ bằng kim loại hiệu ZENDAN – KOMATSU kích thước 29,4 x 9,6cm, giá trị 550.000 đồng
- 01 ống nhựa màu vàng có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại dài 47,6m, đường kính 1,4cm đã qua sử dụng, giá trị 250.000 đồng
- 01 dây cuaro màu đen nhãn hiệu MITSUBA, ký hiệu RECMF 6370 đường kính 30cm, dày 1cm đã qua sử dụng, giá trị 175.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản còn lại của số tài sản trên là 3.275.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P đã ra thu hồi được các tài sản gồm: 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, kích thước (40x30x30) cm, trên máy có dòng chữ YANMAR; 01 đầu máy (máy bơm nén) nhãn hiệu GUAN CHANG GC-26, 1HP.3PS, màu sơn đỏ, kích thước (35x35x20) cm; 01 máy phát cỏ, màu nâu-đỏ-đen, dài 1,75m, có gắn lưỡi dao cắt cỏ bằng kim loại, màu nâu, sắc hai bề, kích thước (29,4x9,6)cm, trên máy có dòng chữ ZENDAN-KOMATSU; 01 ống nhựa màu vàng, có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại, dài 47,6m, đường kính 1,4m; 01 dây cuaro (dây đai răng) màu đen, nhãn hiệu MITSUBA, ký hiệu RECMF 6370 đường kính 30cm, dày 1cm do T giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P đã quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại là Lâm Văn N1.
Đối với 02 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím và 02 điện thoại di động, không rõ nhãn hiệu, màn hình cảm ứng của bị hại Lâm Văn N1. Do bị hại mua tài sản đã lâu, không còn hóa đơn, chứng từ nên không cung cấp được cho Cơ quan điều tra. Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện P có văn bản trả lời không có cơ sở để định giá tài sản nên không đủ cơ sở xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không thu hồi được đối với 04 điện thoại di động.
Đối với Nguyễn Văn T: Khi mua tài sản lần đầu của X (không nhớ rõ ngày chỉ nhớ là khoảng giữa tháng 9/2022) là 01 đầu máy xăng và 01 máy phát cỏ không có chân đế sắt thì X có cho T biết là tài sản X trộm cắp mà có nhưng Tân ham rẻ nên đã mua (bút lục 127, 128, 129, 144, 155, 169, 170). Sau khi mua tài sản từ Xuyên thì T đem cho anh rể tên Phạm Văn T1 sử dụng 01 máy phát cỏ, cho cha vợ tên Trần Văn Ú 01 đầu máy xăng, 01 máy nén, 01 ống dây nhựa và 01 dây cuaro. Sau khi T bị Công an xã T mời làm việc, T đến gặp ông Trần Văn Ú, anh Phạm Văn T1 lấy lại những tài sản đã cho đem giao nộp lại cho Công an xã T. Tuy nhiên, sau đó T thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi biết tài sản của X trộm cắp mà có nhưng ham rẻ đã mua, có hứa hẹn trước, chỉ thừa nhận sau khi Công an xã T mời lên làm việc thì T mới biết tài sản do X trộm cắp do X trộm cắp mà có. T cho rằng quá trình làm việc tại Công an xã T không được đọc lại biên bản, nhưng Nguyễn Văn T có ký tên vào 02 biên bản làm việc ngày 26/10/2022, 07/11/2022, Tân tự viết bản tự khai, bản tường trình vào ngày 26/10/2022, 30/10/2022.
Đối với Nguyễn Văn H1 thừa nhận chỉ có mua của X 02 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, không còn sử dụng được với giá 70.000 đồng nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Sau đó H1 đã bán lại 02 điện thoại này cho người khác với giá 50.000 đồng nhưng không biết rõ người đã mua điện thoại là ai, ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không thu hồi được tài sản.
Đối với Lê Kim S qua xác minh thì đã đi khỏi địa phương từ năm 2008 đến nay, Cơ quan điều tra không làm việc được. Đối với ông Dương Văn R (ở nhà của ông Sơn S1) đã chết vào ngày 27/02/2023 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không làm việc được.
Đối với Nguyễn Văn T2, Trần Văn Ú, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thị N không biết tài sản do T tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại Lâm Văn N1 đã nhận lại tài sản. Ông Ngô Văn G (cha của Ngô Thanh X) và ông Nguyễn Văn Q (cha của Nguyễn Văn T) đã cùng thỏa thuận bồi thường cho Lâm Văn N1 số tiền 1.800.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Ngô Thanh X đã thừa nhận toàn bộ hành vi lén lút lấy trộm tài sản của Lâm Văn N1 gồm 04 điện thoại di động, 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, kích thước (40x30x30) cm, trên máy có dòng chữ YANMAR; 01 đầu máy (máy bơm nén) nhãn hiệu GUAN CHANG GC-26, 1HP.3PS, màu sơn đỏ, kích thước (35x35x20)cm; 01 máy phát cỏ, màu nâu-đỏ-đen, dài 1,75m, có gắn lưỡi dao cắt cỏ bằng kim loại, màu nâu, sắc hai bề, kích thước (29,4x9,6)cm, trên máy có dòng chữ ZENDAN-KOMATSU; 01 ống nhựa màu vàng, có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại, dài 47,6m, đường kính 1,4m; 01 dây cuaro (dây đai răng) màu đen, nhãn hiệu MITSUBA, ký hiệu RECMF 6370 đường kính 30cm, dày 1cm vào ngày 08, 09/09/2022. X còn quanh co về thời gian lấy tài sản lần hai của Lâm Văn N1.
Nguyễn Văn T ban đầu thừa nhận biết tài sản 01 đầu máy (máy bơm nén), 01 đầu máy xăng màu nâu-đỏ-đen, 01 máy phát cỏ, 01 cuộn dây nhựa, 01 dây cuaro là do X trộm cắp mà có (bút lục 127, 128, 129, 169, 170), nhưng ham rẻ nên vẫn mua, các lần làm việc sau đó T không thừa nhận biết tài sản do X trộm cắp mà có mà là tài sản của nhà X bán.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKSPĐ ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Ngô Thanh X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Ngô Thanh X khai nhận, vì nghiện ma túy và không có tiền mua ma túy nên bị cáo X đã trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài và mua ma túy. Bị cáo nhận biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo T lúc đầu quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng sau đó đã thừa nhận vì ham rẻ nên đã mua những tài sản nghi ngờ do phạm tội mà có của X, mục đích của T mua tài sản để cho người thân sử dụng.
Bị hại ông N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ú và ông T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo X và T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo X đã lén lút trộm cắp tài sản của bị hại, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Vì vậy, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo X có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo X đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS tuyên bị cáo X từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù giam;
Đối với bị cáo T căn cứ vào Biên bản ghi lời khai (BL 127, 128, 129, 130), Bản tự khai/Bản tường trình (BL 169, 170) T đều thừa nhận hành vi biết X trộm cắp tài sản nhưng vì ham rẻ nên mua. Trong quá trình điều tra bị cáo còn quanh co nhưng tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, chỉ cần phạt tiền bị cáo T là đủ sức răn đe. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323, Điều 35, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bị cáo T.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã trả lại cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại Lâm Văn N1 đã nhận lại tài sản. Ông Ngô Văn G (cha của Ngô Thanh X) và ông Nguyễn Văn Q (cha của Nguyễn Văn T) đã cùng thỏa thuận bồi thường cho Lâm Văn N1 số tiền 1.800.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo X, T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo X tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định vào khoảng 19 giờ đêm ngày 08/09/2022 X đến nhà (chòi dùng để canh giữ vườn không có người trông coi) của ông Lâm Văn N1, mở khóa vào nhà, lấy 04 điện thoại di động (02 điện thoại loại bàn phím và 02 điện thoại màn hình cảm ứng) bỏ vào túi quần, rồi X lấy chìa khóa (cờ lê) gần đó vặn mở ốc - bu lông 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, hiệu Yanmar gắn cùng với máy bơm nén và 01 máy phát cỏ đã qua sử dụng màu nâu-đỏ-đen, dài 1,75m, có gắn lưỡi cắt cỏ bằng kim loại hiệu ZENDAN –KOMATSU. Sau khi lấy được tài sản, X đem 04 điện thoại di động, 01 máy phát cỏ đến nhà S, 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen, hiệu Yanmar về nhà ông Lê Kim S ngụ cùng ấp cất giữ. Đến sáng hôm sau X đem 04 điện thoại di động đem bán cho Nguyễn Ngọc H với số tiền 700.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, X gặp Nguyễn Văn T kêu bán tài sản là đầu máy xăng và máy phát cỏ với giá 2.500.000 đồng, T và X hẹn T đến nhà của ông S để xem tài sản, T trả giá 1.500.000 đồng thì X đồng ý bán. Đến tối Tân đi đến nhà ông S đậu xe ngoài lộ, T đem máy xăng và máy phát cỏ ra xe thì gặp Nguyễn Văn T2 đi bộ về nhà, T nhờ T2 cầm giùm máy phát cỏ về đến nhà T, T2 đi về nhà T2.
Khoảng 21 giờ ngày 09/9/2022, X tiếp tục đi vào nhà của ông N1 lấy trộm 01 đầu máy dạng máy nén; 01 ống nhựa màu vàng có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại; 01 dây cuaro màu đen nhãn hiệu MITSUBA. Sau khi lấy xong tài sản X đem cất giấu ở ngoài chòi (không người trông coi) của ông Trần Văn C1 (Ngon). Đến trưa ngày 10/9/2022 X điện thoại kêu bán cho T 01 máy nén, 01 ống dây nhựa và 01 dây cuaro với giá 500.000 đồng, T trả giá 300.000 đồng thì X đồng ý. X nói máy và cuộn dây để ở chòi của ông N2 kêu T ra đó lấy. Đến tối, T đến chòi ông N2 và chở máy nén, cuộn dây nhựa và dây cuaro về nhà, T trả đủ số tiền 300.000 đồng cho X.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐ ĐGTS ngày 09/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 đầu máy, màu nâu-đỏ-đen hiệu Yanmar, giá trị 1.750.000 đồng; 01 đầu máy dạng máy nén hiệu Guan Chang GC-26, 1HP.3PS màu đỏ, giá trị 550.000 đồng; 01 máy phát cỏ đã qua sử dụng màu nâu-đỏ-đen hiệu ZENDAN – KOMATSU, giá trị 550.000 đồng; 01 ống nhựa màu vàng có viền đỏ, 02 đầu ống được bọc kim loại, giá trị 250.000 đồng; 01 dây cuaro màu đen nhãn hiệu MITSUBA, giá trị 175.000 đồng. Tổng giá trị tài sản còn lại của số tài sản trên là 3.275.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo X về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Đối với bị cáo T vì ham rẻ nên đã mua tài sản do bị cáo X phạm tội mà có. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ
[3] Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Ngô Thanh X, Nguyễn Văn T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo X vì không muốn lao động mà lại muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác và đem bán rẻ cho bị cáo T để kiếm tiền tiêu xài. Còn bị cáo T biết tài sản của X bán là do phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ nên bị cáo vẫn mua tài sản của X. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó, cần phải cách ly bị cáo X ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo X có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo X đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo X khi lượng hình.
Đối với bị cáo T trong quá trình điều tra không thành khẩn khai báo nhưng tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần phạt tiền bị cáo là đủ sức răn đe.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đã trả lại vật chứng và phần trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong nên không đặt ra xem xét.
[6] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Ngô Thanh X 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
*Áp dụng: Khoản 1 Điều 323, Điều 35, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo X và bị cáo T.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Thanh X, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà |
Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 62/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh X trộm cắp TS, Nguyễn Văn T tiêu thụ tài sản do người khác PT mà có
