|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 29/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Luân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hiển.
2. Bà Nguyễn Thị Sinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lành – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THÀNH ĐỒNG, tên gọi khác: không; sinh năm 1984, tại Phú Yên; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1951; con bà Mạnh Thị M (đã chết); tiền sự: không; tiền án: không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 257/2008/HSPT ngày 21/02/2008 của Tòa phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt);
Bị bắt tạm giam ngày 17/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị hại: Bà Đặng Thị T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 17/7/2023, Nguyễn Thành Đ đi từ nhà trọ K tại Tổ dân phố N, thị trấn T đến quán hủ tíu bên đường do bà Đặng Thị T1 làm chủ để ăn tối. Sau khi ăn xong thì Đ nói bà T1 bán thêm một phần để mang về. Lúc này Đ phát hiện bà T1 để một chiếc điện thoại di động xuống bàn bên cạnh chỗ ngồi của Đ. Quan sát thấy xung quanh không có ai còn bà T1 thì bận làm hủ tíu nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của bà T1. Thực hiện ý định, Đ nhanh chóng đưa tay trái lấy chiếc điện thoại của bà T1 bỏ vào túi quần rồi bỏ chạy. Bà T1 phát hiện và đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi lấy được chiếc điện thoại thì Đ bỏ chạy về phòng trọ số 8 – Nhà trọ Kim Y và đóng cửa lại. Bà T1 biết được Đ đang ở nhà trọ Kim Y nên cùng một số người đến phòng trọ giữ cửa không cho Đ tẩu thoát và báo cho cơ quan Công an xử lý. Quá trình điều tra Đ khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc như đã nêu trên.
Tại kết luận định giá số: 26/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định chiếc điện thoại hiệu Vivo V25e, màu vàng mà bị cáo chiếm đoạt của bà T1 có giá trị là 6.390.000 đ.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS-ĐD ngày 09/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung vụ án, thừa nhận các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương giữ quyền công tố luận tội với nội dung tóm tắt như sau: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo và những người bị hại trong quá trình điều tra, không có gì thay đổi. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”; Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đề cập.
Bị cáo và người bị hại không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành hợp pháp.
Tại phiên tòa người bị hại Đặng Thị T1 đã được triệu tập nhưng vắng mặt, lời khai của người bị hại đã thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, đương sự đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không ảnh hưởng đến nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi vắng mặt người bị hại.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã nêu; xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 17/7/2023 bị cáo đã có hành vi công khai cướp giật tài sản là điện thoại hiệu Vivo V25e, màu vàng của bà Đặng Thị T1 và nhanh chóng tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ tài sản. Theo kết luận định giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại là 6.390.000đ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo trong các lần phạm tội:
Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, bất chấp, xem thường pháp luật, công khai xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; không những xâm phạm về tài sản mà còn làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất bình thường của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương; do đó cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe riêng đối với bị cáo, đồng thời cũng có tính giáo dục phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không thuộc tình tiết định khung tăng nặng nào được qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo không có yếu tố tăng nặng hình phạt. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và được người bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không đề cập.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2023.
[2] Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thành Luân |
Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự: cướp giật tài sản
- Số bản án: 62/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ - Cướp giật tài sản
