Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HS-ST

Ngày 25/10/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Gia Văn Tính

2. Ông Hoàng Văn Hào

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa:

Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 25/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 03/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 10/10/2023, đối với bị cáo:

Vi Văn B, sinh năm 1978; Tên gọi khác: Không. Nơi sinh: Thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Nhân viên y tế - Trạm y tế Thị trấn M; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn T (đã chết), Con bà: Vi Thị C, sinh năm: 1955; Vợ: Hà Thị Ằ, sinh năm: 1983, bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009. Số căn cước công dân: 038078006878. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/4/2023 chuyển tạm giam ngày 03/5/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lương Thị T1, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý, chi nhánh S – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 27/4/2023, Vi Văn B đang ở nhà mình tại khu phố T, thị trấn M, huyện M thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0376.098.293 của một người đàn ông (Tự xưng là người ở huyện C, đang lái máy xúc ở huyện M, nhưng không nói tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) vào số điện thoại 0386.498.286 của bị cáo và hỏi bị cáo là có ma túy không? Bị cáo trả lời là không có. Sau đó Vi Văn B nói lại với người này là biết chỗ nào có ma túy thì mua giúp cho bị cáo luôn để sử dụng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Vi Văn B nhận được cuộc gọi từ số máy 0376.098.293 (Là người lúc trước đã gọi cho bị cáo hỏi ma túy) đến máy của bị cáo bảo bị cáo đi xuống khu vực bãi rác thuộc khu D, thị trấn M, huyện M để mua ma túy. Sau đó bị cáo đến nhà chị Lương Thị T1 ở cùng khu phố mượn xe máy, nói là đi xuống thị trấn M để khám bệnh. Khi đi đến khu vực bãi rác, thuộc khu D thị trấn M, bị cáo để xe ở ngoài bãi rác và bị cáo điện thoại cho người đàn ông (Tự xưng là người ở huyện C, đang lái máy xúc ở huyện M lúc đã gọi cho bị chỉ chỗ để ma túy), thì được chỉ dẫn chỗ cất giấu ma túy. Nhận được ma túy, bị cáo để lại 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tại vị trí nơi lấy ma túy và đi ra lấy xe máy để đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Vi Văn B đang đi xe máy từ bãi rác ra quốc lộ để về nhà thì gặp Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu T4, Vi Văn B sợ bị bắt nên ném số ma túy xuống đất ngay phía sau cách xe máy của bị cáo khoảng 02 mét, nhưng đã bị phát hiện, bắt quả tang.

Tang vật thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 09 viên nén hình tròn dẹt màu hồng và 01 cục chất rắn màu trắng, Vi Văn B khai đó là ma túy hồng phiến (ma túy tổng hợp) và H. Ngoài ra Vi Văn B còn bị tạm giữ 01 xe mô tô BKS: 36B7-581.26 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen.

Tại bản Kết luận giám định số: 1644/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

09 (chín) viên nén hình trọt dẹt màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,836g (Không phẩy tám ba sáu gam) Loại: Methamphetamine.

Cục chất rắn màu trắng của phong bì niêm phong gửi dám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,231g (không phẩy hai ba một gam) loại: Heroine.

Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của Vi Văn B là 1,067g (Một phẩy không sáu bảy gam).

Bản cáo trạng số 60/CT-VKS-ML ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác. Bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị Nhà Nước nghiêm cấm nhưng do là người nghiện, không kìm chế được bản thân nên đã cố tình phạm tội, mục đích là để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị khẳng định chiếc xe máy BKS 36B7-581.26, loại xe HONDA, nhãn hiệu VISION là xe của chị, chị đã được nhận lại chiếc xe máy. Về trách nhiệm dân sự, chị không yêu cầu gì đối với bị cáo Vi Văn B.

Tranh luận và luận tội: Tại phiên tòa. Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điều luật: Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên Vi Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo từ 26 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy, gồm: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.

Bị cáo có tội, buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS mà đại diện VKS đã đề nghị đối với bị cáo. Người bào chữa cho rằng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số lại sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có bố là bệnh binh (Bị chất độc màu da cam); Quá trình công tác bị cáo đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong thời gian đại dịch Covid 19, bị cáo với cương vị là nhân viên y tế nên đã tham gia phòng chống dịch tại huyện nhà; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo. Nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, để xử bị cáo ở mức án từ 18-24 tháng tù là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án;

Tại phiên tòa, bị cáo tranh luận với đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo cho rằng, mức án vị đại diện Viện kiểm sát đưa ra (26-30 tháng) đối với bị cáo là quá cao, không phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng là ít (1.067gam), nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên mức án bị cáo phải chịu sẽ thấp hơn mức đề nghị này.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đối đáp và cho rằng: Việc bị cáo cho rằng đại diện Viện kiểm sát đưa ra mức hình phạt đối với bị cáo như vậy là cao, là quyền của bị cáo. Viện kiểm sát đã xem xét toàn diện, về hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo, nên mới đưa ra mức án như vậy.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã rất ân hận về việc làm sai trái, bị cáo hứa khi chấp hành xong hình phạt sẽ không phạm tội mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội, mong HĐXX cho bị cáo được xin lại chiếc điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, thời gian, không gian, địa điểm và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 27/4/2023, Vi Văn B đang ở nhà tại khu phố T, thị trấn M, huyện M thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0376098293 của một người đàn ông (bị cáo không biết tên, tuổi, đị chỉ) vào số điện thoại 0386498286 của Vi Văn B hỏi mua ma túy, Vi Văn B trả lời là không có. Sau đó, Vi Văn B hỏi lại người này có biết chỗ nào có ma túy thì mua giúp cho B luôn để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, thì Vi Văn B nhận được cuộc gọi từ số máy 0376098293 gọi đến máy của Vi Văn B bảo Vi Văn B đi xuống khu vực bãi rác thuộc khu D, thị trấn M, huyện M để mua ma túy. Khi đến điểm hẹn, Vi Văn B điện thoại cho người đàn ông có số máy 0376098293 thì được chỉ dẫn chỗ cất giấu ma túy. Nhận được ma túy, bị cáo để lại 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tại vị trí nơi lấy ma túy. Khi Vi Văn B đang đi từ bãi rác ra quốc lộ để về nhà thì gặp Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu T4 phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số số ma túy vừa mua được. Qua giám định, số ma túy thu giữ của bị cáo là 0,836g (Không phẩy tám ba sáu gam) Loại: Methamphetamine và 0,231g (không phẩy hai ba một gam) loại: Heroine, các chất ma túy này đều quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cho nên, HĐXX sẽ cộng tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của Vi Văn B tàng trữ là 1,067g (Một phẩy không sáu bảy gam).

Với hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo Vi Văn B là 02 chất ma túy, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Nước CHXHCN Việt Nam, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, vì bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết chất ma túy là chất gây nghiện, bị pháp luật nghiêm cấm, khi người sử dụng sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào ma túy, ma túy còn hủy hoại thể chất, tinh thần và đồng thời cũng có thể là tác nhân phát sinh những tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng; Hành vi của bị cáo là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà Nước. Hiện nay ma túy đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về tác hại của nó, toàn Đảng, toàn dân đã vào cuộc để bài trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội, nhưng bị cáo lại đi ngược lại chủ trương đó, cho thấy hành vi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải, nên HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS, với lý do bị cáo có bố là bệnh binh chất độc màu da cam, thì HĐXX thấy chưa đủ cơ sở đề áp dụng.

[5] Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa, để bị cáo có thời gian cai nghiện chất ma túy; Thấy rằng đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên tòa là chưa phù hợp với hành vi phạm tội, khối lượng chất ma túy thu giữ cửa bị cáo (1,067g). Nên HĐXX sẽ xử bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và phù hợp với hành vi phạm tội, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm nhân viên y tế, nhưng hiện nay thu nhập của bị cáo đã bị cắt giảm, khi đi chấp hành án sẽ không còn nguồn thu nhập nào khác. Nên, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xét về vật chứng trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, vì đây là vật chứng vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen, máy đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim số 0386498286, thu giữ của bị cáo, vì đây phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.

Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại 01 (một) xe mô tô BKS: 36B7-581.26, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lương Thị T1, sinh năm 1987, trú tại: Khu phố T, thị trấn M.

[7] Xét về án phí: Bị cáo có tội, nên HĐXX buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[9]. Các nhận định khác:

Đối với người đàn ông đặt ma túy tại khu vực bãi rác, theo lời khai của Vi Văn B, tự xưng là người ở huyện C đang lái máy xúc ở huyện M và dùng số điện thoại 0376098293 gọi vào số điện thoại 0386498286 của Vi Văn B để dẫn vị trí, địa điểm bán ma túy cho Bé, thì cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra xác minh số thuê bao 0376098293 là của Vi Thị T2, sinh năm 1968, trú tại bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Qua xác minh Vi Thị T2 khai chưa từng đăng ký số thuê bao 0376098293 và không biết ai sử dụng số thuê bao này, cũng không biết và liên lạc với Vi Văn B ở huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Do đó Cơ quan CSĐT đang tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả thì xử lý trong vụ án khác.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên, Vi Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Vi Văn B 23 (Hai mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (27/4/2023).

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có số ma túy còn lại do phòng K1 Công an tỉnh T phát hành sau giám định, mặt trước ghi vụ Đồn BP Tén Tần T/C 01 ngày 27/4/2023 mặt sau được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên, Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T3, Cao Văn L và các hình dấu của phòng K1 làm giáp lai.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen, bên trong máy có sim số 0386498286, máy đã qua sử dụng

Vật chứng trên đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 01/2024/TV-CCTHADS ngày 02/10/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Vi Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân huyện Mường Lát;
  • - Phòng 7 - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an H. Mường Lát;
  • - CQ THAHS - CA huyện Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ - Công an H. Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - Đồn BP Cửa khẩu Tén Tằn, H. Mường Lát;
  • - Trung tâm Y tế huyện Mường Lát;
  • - UBND TT Mường Lát, huyện Mường Lát;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 62/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 27/4/2023, Vi Văn B đang ở nhà mình tại khu phố T, thị trấn M, huyện M thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0376.098.293 của một người đàn ông (Tự xưng là người ở huyện C, đang lái máy xúc ở huyện M, nhưng không nói tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) vào số điện thoại 0386.498.286 của bị cáo và hỏi bị cáo là có ma túy không? Bị cáo trả lời là không có. Sau đó Vi Văn B nói lại với người này là biết chỗ nào có ma túy thì mua giúp cho bị cáo luôn để sử dụng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Vi Văn B nhận được cuộc gọi từ số máy 0376.098.293 (Là người lúc trước đã gọi cho bị cáo hỏi ma túy) đến máy của bị cáo bảo bị cáo đi xuống khu vực bãi rác thuộc khu D, thị trấn M, huyện M để mua ma túy. Sau đó bị cáo đến nhà chị Lương Thị T1 ở cùng khu phố mượn xe máy, nói là đi xuống thị trấn M để khám bệnh. Khi đi đến khu vực bãi rác, thuộc khu D thị trấn M, bị cáo để xe ở ngoài bãi rác và bị cáo điện thoại cho người đàn ông (Tự xưng là người ở huyện C, đang lái máy xúc ở huyện M lúc đã gọi cho bị chỉ chỗ để ma túy), thì được chỉ dẫn chỗ cất giấu ma túy. Nhận được ma túy, bị cáo để lại 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tại vị trí nơi lấy ma túy và đi ra lấy xe máy để đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Vi Văn B đang đi xe máy từ bãi rác ra quốc lộ để về nhà thì gặp Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu T4, Vi Văn B sợ bị bắt nên ném số ma túy xuống đất ngay phía sau cách xe máy của bị cáo khoảng 02 mét, nhưng đã bị phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 09 viên nén hình tròn dẹt màu hồng và 01 cục chất rắn màu trắng, Vi Văn B khai đó là ma túy hồng phiến (ma túy tổng hợp) và H. Ngoài ra Vi Văn B còn bị tạm giữ 01 xe mô tô BKS: 36B7-581.26 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger