Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 62/2020/HNGĐ – ST
Ngày: 23/9/2020
V/v: Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thuấn và bà Phan Thị Oanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: ông Đặng Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 193/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: 34/10 Lê Thành P, phường 8, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  • Bị đơn: Trần Thanh P, sinh năm 1991; Nơi cư trú: khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị Bích H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh P tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T theo Giấy CNKH số 41 ngày 18/6/2018. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân chỉ hạnh phúc một thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung, anh P không quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, kình cãi khiến mâu thuẫn ngày càng nặng nề không thể khắc phục được. Đến đầu năm 2019 thì vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, chị H và con về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ đó đến nay không còn ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Ngọc An N – sinh ngày 20/8/2019, hiện đang sống với mẹ. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa giải quyết.

Bị đơn Trần Thanh P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày và không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Bích H và anh Trần Thanh P tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn như đương sự đã trình bày. Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhưng bị đơn không tới tham gia các phiên hòa giải là không có thiện chí hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn. Vì vậy HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung: có 01 con chung là cháu Trần Ngọc An N – sinh ngày 20/8/2019, hiện đang sống với mẹ. Xét thời gian qua con chung do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con của nguyên đơn là phù hợp; HĐXX chấp nhận giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với anh Trần Thanh P.
  • Về con chung: giao con chung là Trần Ngọc An N – sinh ngày 20/8/2019 cho chị Nguyễn Thị Bích H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Trần Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: không xét.
  • Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Nguyên đơn Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001383 ngày 12/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T.
Nơi nhận:
- TA tỉnh Phú Yên;
- VKSND TP T;
- Chi cục THADS TP T;
- UBND P. Phú Đông, Tp T;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa



Lê Diễm Anh Trúc
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2020/HNGĐ – ST ngày 23/09/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 62/2020/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger