Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 619/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 612/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 614/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Minh T, sinh ngày 11/8/2005, tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Tin Lành; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 8/12; con ông Võ Thái H, sinh năm 1986 và bà Huỳnh Thị K (Tên gọi khác là: Huỳnh Thị Bảo N), sinh năm 1986; bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Anh Phan Việt D, sinh năm 2004, địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Lý Minh T1, sinh năm 1979, địa chỉ: A, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  • + Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Minh T và anh Phan Việt D là công nhân làm chung tại xưởng sản xuất kẹo của Công ty B, địa chỉ: đường số A, Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trước khi vào làm việc, anh D bỏ điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax vào trong tủ đồ cá nhân của anh D (phía trên tủ cá nhân của T).

Đến khoảng 12 giờ 45 phút 28/6/2024, T đi ra phòng thay đồ thì thấy cánh tủ đồ cá nhân của anh D bị hở góc phía dưới bên trái. T biết được anh D thường để điện thoại di động trong tủ nên T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại di động của anh D. T dùng tay luồn vào khe hở của cánh cửa tủ móc và lấy được điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của anh D. Sau khi trộm cắp được điện thoại, T cất giấu điện thoại vào ba lô của T rồi tiếp tục vào xưởng làm việc. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, anh D phát hiện bị mất điện thoại và báo Công ty trình báo Công an Đồn Khu công nghiệp B1.

Sau khi tan ca, T mang ba lô chứa điện thoại của anh D ra khỏi công ty và liên hệ cho đối tượng tên L (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) hẹn gặp tại đường H, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để nhờ L bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được. Sau khi kiểm tra điện thoại, L nói điện thoại cài mật khẩu và định vị nên không bán được. T mang chiếc điện thoại trên về nhà T tại ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu trong tủ quần áo của T.

Đến ngày 30/6/2024, D định vị được điện thoại của mình và báo Công an Đồn Khu công nghiệp phối hợp với Công an xã L, thành phố B kiểm tra phát hiện thu giữ điện thoại tại phòng ngủ nhà T. Công an xã L lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 xử lý.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của anh Phan Việt D bị Võ Minh T trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh D.

Tại Kết luận định giá tài sản số 215/KL ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax loại 128Gb trị giá 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản do Võ Minh T trộm cắp đã được thu hồi và trả cho bị hại. Anh Phan Việt D không yêu cầu gì và có đơn xin bãi nại đối với T.

Tại Cáo trạng số 589/CT-VKS-BH ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 45 phút 28/6/2024, tại Công ty B, địa chỉ: đường số A, Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Võ Minh T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của anh Phan Việt D trị giá 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Với nội dung trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

  • - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của anh Phan Việt D bị Võ Minh T trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh D nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Đối với đối tượng tên L (Chưa rõ lai lịch) có hành vi giúp Võ Minh T kiểm tra để bán chiếc điện thoại trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Minh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2024 đến hết ngày 09/7/2024.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 619/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 619/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Minh T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger