Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 619/2024/HS-PT

Ngày: 29 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 375/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Phương T do kháng cáo của bị cáo Vũ Phương T và bị hại Lê Thị Lan P, Lê Thái C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Vũ Phương T, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Huỳnh Tuyết L; có chồng và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 02/11/2021, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Tô Bá T2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

  1. Ông Lê Thái C, sinh năm 1971; địa chỉ: 6 P, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  2. Bà Lê Thị Lan P, sinh năm 1963; địa chỉ: số G Cô B, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C, bà P: Luật sư Trần Thị Phương D thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên quan đến kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P2 (viết tắt là O), địa chỉ trụ sở: D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện theo ủy quyền của O: Bà Vũ Thị Quỳnh T3. Địa chỉ: 1 P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Phương T là nhân viên của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P2 (tên viết tắt là O) từ ngày 15/11/2010 đến ngày 14/5/2018. T biết OCB không có chương trình trả lãi suất ưu đãi cho khách hàng hoặc cho nhân viên khi đạt chỉ tiêu theo quy định nhưng vẫn đưa ra thông tin giả là O đang có chương trình lãi suất ưu đãi để các bị hại tin tưởng đến đăng ký mở tài khoản tại OCB và chuyển tiền vào tài khoản đó, sau đó T làm giả con dấu, sổ tiết kiệm, Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn đưa cho các bị hại và khi hỗ trợ người bị hại điền thông tin mở tài khoản T đã tự điền ghi số điện thoại nhận mã OTP là số điện thoại của T, làm bị hại tin tưởng số tiền tiết kiệm của mình đã được gửi vào OCB, T đã chiếm đoạt tiền của những người bị hại như sau:

  1. Chiếm đoạt của bà M Phạm Đăng A số tiền 890.000.000 đồng.

    Bà M Phạm Đăng A quen biết Vũ Phương T từ khoảng năm 2011 nên biết T là nhân viên O - Chi nhánh Q1. Vũ Phương T tư vấn cho bà A mở tài khoản tiết kiệm gửi số tiền 400.000.000 đồng tại OCB với lãi suất ưu đãi 14%/1 năm. Do lúc đăng ký mở tài khoản, bà A đăng ký số điện thoại di động của bà A để giao dịch internet banking, nên T nói với bà A là khi nào nhận được mã OTP (mã xác thực) do ngân hàng nhắn tin đến thì nhắn mã OTP qua cho T để T phong tỏa số tiền mà bà A nộp vào tài khoản để nhằm tránh trường hợp bà A tự ý rút ra tiêu xài. Sau khi nhận được tin nhắn, bà A đã nhắn mã OTP cho T đồng thời thấy tài khoản đã bị trừ số tiền 400.000.000 đồng, T gặp bà A đưa 01 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn. Hàng tháng bà A vẫn nhận được tiền lãi của số tiền 400.000.000 đồng gửi tiết kiệm. Khi hết hạn trên Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn thì T đến thu Hợp đồng cũ và đưa cho bà A Hợp đồng mới.

    Ngày 28/6/2018, bà A tiếp tục nộp vào tài khoản của bà A tại O số tiền 490.000.000 đồng để mở 01 tài khoản tiết kiệm thứ 2, tiếp tục nhắn mã OTP cho T và bị báo trừ toàn bộ số tiền này, T cũng đưa thêm 01 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn. Bà A nhận tiền lãi gửi tiết kiệm của 2 tài khoản tiết kiệm này đến tháng 7/2018, thì T không chuyển trả nữa, cho đến khi T bị Công an Q2 mời làm việc, thì bà A mới nghi ngờ các Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn bà đang giữ là Hợp đồng tiền gửi được làm giả, nên bà A làm đơn tố cáo T chiếm đoạt số tiền là 890.000.000 đồng.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của bà A là 890.000.000 đồng, T khai trả tiền lãi cho bà A tổng cộng là 57.800.000 đồng và trả cho bà A được 80.000.000 đồng trong số 890.000.000 đồng tiền gốc.

  2. Chiếm đoạt của ông Vũ Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng.

    Khoảng tháng 8/2011, ông Hải A1 đến OCB, Hội sở số 45 L, phường B, Quận A để gửi tiết kiệm thì tình cờ quen biết với Vũ Phương T. Khi biết ông Hải A1 có tiền gửi tiết kiệm, T cho biết sẽ hỗ trợ ông Hải A1 gửi tiết kiệm với lãi suất ưu đãi dành cho nhân viên của O. T cho biết đây là lãi suất ưu đãi, chỉ được áp dụng cho nhân viên nhưng T áp dụng cho ông Hải A1 để lấy chỉ tiêu khách gửi tiết kiệm. Ngoài ra, khi đăng ký mở tài khoản tiết kiệm từ T, ông Hải A1 sẽ được Ngân hàng áp dụng hình thức rút tiền linh hoạt. T hướng dẫn cho ông Hải A1 mở tài khoản tiết kiệm số 0100100025741007, T tự điền thông tin và ghi số điện thoại nhận mã OTP là số điện thoại của T, rồi T đưa cho ông Hải A1 01 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, có hình dấu của “Ngân hàng TMCP P2 – Quận A”. Sau đó, ông Hải A1 đã nhiều lần chuyển thêm tiền vào tài khoản số 0100100025741007 nên đến tháng 01/2018, số tiền gửi tiết kiệm vào tài khoản này là 700.000.000 đồng. Mỗi tháng T đều chuyển khoản tiền lãi vào tài khoản số 0100100025741007 cho ông Hải A1, đến tháng 8/2018, ông Hải A1 không nhận được tiền lãi. Qua tìm hiểu, ông Hải A1 mới biết T bị Cơ quan Công an triệu tập làm việc do có hành vi làm giả sổ tiết kiệm, Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn của O để lừa đảo chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của khách hàng OCB. Ông Hải A1 làm đơn tố cáo Vũ Phương T chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của ông Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho ông Hải A1 tổng cộng là 141.994.000 đồng.

  3. Chiếm đoạt của ông Nguyễn Hồng T4 số tiền 1.000.000.000 đồng.

    Ông Nguyễn Hồng T4 quen biết với Vũ Phương T đã lâu và biết T là nhân viên OCB. Tháng 9/2011, T nói với ông T4 là đang cần chạy chỉ tiêu tiền gửi tiết kiệm theo quy định để được hưởng tiền thưởng hoa hồng cao nên T sẵn sàng tính lãi suất 12.5%/1 năm, hạn mức gửi tiền chỉ trong 3-6 tháng. Tin tưởng T là nhân viên OCB nên ông T4 đã đến OCB mở 01 tài khoản mang tên Nguyễn Hồng T4, T tự điền thông tin và ghi số điện thoại nhận mã OTP là số điện thoại của T, sau đó ông T4 nộp vào tài khoản số tiền 1.000.000.000 đồng. T cam kết tài khoản này là tài khoản tiết kiệm, kỳ hạn 06 tháng và đưa cho ông T4 một Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn có đóng dấu OCB. Ngay khi chuyển 1.000.000.000 đồng mở tài khoản tiết kiệm, ông T4 được T thanh toán ngay tiền lãi suất chênh lệch là 4.200.000 đồng, đến hạn tất toán khoản tiết kiệm này, T thanh toán cho ông T4 tiền lãi theo quy định là 37.500.000 đồng. Tính từ tháng 9/2011 đến tháng 8/2018, ông T4 đã 13 lần gia hạn tiền gửi nên số tiền lãi suất chênh lệch mà T đã trả là 54.600.000 đồng, số tiền lãi suất theo quy định ngân hàng là 450.000.000 đồng (12 kỳ do kỳ tháng 8/2018 T không thanh toán). Khi hết hạn, ông T4 gia hạn, nên được Thảo đổi Hợp đồng mới, thu Hợp đồng cũ. Tổng số tiền ông T4 nhận được T trả do gửi tiết kiệm là 504.600.000 đồng.

    Sau khi ông Nguyễn Hồng T4 biết T bị nhiều người tố cáo vì đưa sổ tiết kiệm giả, nên ông T4 đến OCB tìm hiểu mới được biết sổ tiết kiệm mà T đưa cho ông là giả nên làm đơn tố cáo T chiếm đoạt.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của ông T4 số tiền 1.000.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho ông T4 tổng cộng là 800.400.000 đồng.

  4. Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng.

    Tháng 01/2012, Vũ Phương T cũng dùng thủ đoạn tương tự như ông Nguyễn Hồng T4, T đưa cho bà Nguyễn Thị Hồng N (em ruột ông Nguyễn Hồng T4) một Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn để chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng của bà N. Khi hết hạn, bà N gia hạn nên được Thảo đổi Hợp đồng mới, thu Hợp đồng cũ. Tính từ tháng 01/2012 đến tháng 8/2018 (kỳ tháng 8/2018 T không thanh toán). T chiếm đoạt của bà N là 1.000.000.000 đồng

    Vũ Phương T chiếm đoạt của bà N số tiền 1.000.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho bà N tổng cộng là 1.041.780.000 đồng.

  5. Chiếm đoạt của bà Mai Thị Ngọc T5 số tiền 1.050.000.000 đồng.

    Vào năm 2012, bà Mai Thị Ngọc T5 quen biết với Vũ Phương T nên biết T là nhân viên của O, Vũ Phương T cũng dùng thủ đoạn tương tự như ông Nguyễn Hồng T4. Khi được T tư vấn gửi tiền tiết kiệm để nhận lãi suất ưu đãi thì bà T5 đã đồng ý gửi tiền vào OCB để mở sổ tiết kiệm với các lần cụ thể như sau:

    • - Ngày 13/02/2012, bà T5 mở sổ tiết kiệm trị giá 500.000.000 đồng tại O - Chi nhánh Q3, số D L, phường B, Quận A.
    • - Ngày 01/3/2013, bà T5 nộp thêm 250.000.000 đồng vào tài khoản đã mở vào tháng 02/2012.
    • - Ngày 14/10/2013, bà T5 nộp tiếp 200.000.000 đồng vào tài khoản trên tại OCB - Chi nhánh C3.
    • - Ngày 20/5/2014, T nói bà T5 nộp thêm 200.000.000 đồng vào tài khoản tại O - Chi nhánh Đ1, Quận A.
    • - Đầu năm 2015, bà T5 muốn nộp thêm 80.000.000 đồng nên T tiếp tục nói bà T5 nộp tiền tại O – Chi nhánh Đ1, Quận A.

    Bà T5 nói T cho rút số tiền 150.000.000 đồng, T đã chuyển khoản số tiền này cho bà T5. Tổng số tiền bà T5 đã nộp vào OCB để mở tiết kiệm từ tháng 02/2012 đến năm 2018 là 1.050.000.000 đồng.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của bà T5 số tiền 1.050.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho bà T5 tổng cộng là 800.000.000 đồng.

  6. Chiếm đoạt của bà Hà Thị Bích V số tiền 3.500.000.000 đồng.

    Bà Hà Thị Bích V quen biết T từ lâu nên biết T là nhân viên của O. Khoảng tháng 8/2013, bà V nhiều lần gửi cho T tổng số tiền 3.500.000.000 đồng để gửi tiết kiệm tại OCB. T đưa 01 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn số 0065100004888008, đề ngày 05/4/2017, thể hiện có gửi tiết kiệm tại OCB số tiền 3.500.000.000 đồng, từ ngày 05/4/2017 đến ngày 05/7/2018 cùng số tiền lãi suất chênh lệch như thỏa thuận là 15.750.000 đồng. Tuy nhiên, khi đến hạn tất toán khoản này thì T nhiều lần hẹn vì có nhiều lý do chưa tất toán được với OCB. Đến ngày 22/9/2018, T cho biết đã rút toàn bộ số tiền 3.500.000.000 đồng trong tài khoản số 0065100004888008 để đem đến cho bà V nhưng trên đường đi qua nhà đưa tiền thì bị cướp giật toàn bộ số tiền này. Sau đó, bà V phát hiện T bị nhiều người tố cáo do có hành vi làm giả sổ tiết kiệm của O để chiếm đoạt tiền. Do việc nhận tiền chi trả lãi của T đã lâu nên bà V không xác định được số tiền lãi thực nhận từ T là bao nhiêu.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của bà V số tiền 3.500.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho bà V tổng cộng là 130.000.000 đồng.

  7. Chiếm đoạt của ông Lê Hoàng T6 số tiền 1.000.000.000 đồng.

    Ông Lê Hoàng T6 quen biết với Vũ Phương T đã lâu và biết T là nhân viên Ngân hàng TMCP P2 (O). Tháng 5/2014, T nói với ông T6 là đang cần chạy chỉ tiêu tiền gửi tiết kiệm theo quy định để được hưởng tiền thưởng hoa hồng cao nên T sẵn sàng tính lãi suất 12,5%/1 năm, hạn mức gửi tiền chỉ trong 3-6 tháng.

    Từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2018, Vũ Phương T cũng dùng thủ đoạn tương tự như ông Nguyễn Hồng T4, T đưa cho ông Lê Hoàng T6 02 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn để chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng. Khi hết hạn, ông T6 gia hạn nên được Thảo đổi Hợp đồng mới, thu Hợp đồng cũ về.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của ông T6 số tiền 1.000.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho ông T6 tổng cộng là 212.700.000 đồng.

  8. Chiếm đoạt của ông Lê Thái C số tiền 5.200.000.000 đồng.

    Ngày 06/8/2015, ông Lê Thái C đến O, Chi nhánh Q1 mở 01 tài khoản ngân hàng đứng tên ông C và nộp vào 6.000.000.000 đồng. Sau đó, T đưa cho ông C 01 sổ tiết kiệm và T đưa số tiền 25.200.000 đồng (trả tiền lãi suất chênh lệch), đến hạn tất toán, T đưa số tiền 112.500.000 đồng cho ông C (thanh toán tiền lãi theo quy định). Tính từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016, T đã trả lãi số tiền chiếm đoạt cho ông C tổng cộng là 550.800.000 đồng.

    Ngày 17/6/2016 và 31/8/2016, ông C tiếp tục chuyển 2.500.000.000 đồng vào tài khoản của ông C để T mở tiếp 01 sổ tiết kiệm thứ 2, kỳ hạn 03 tháng, T đưa số tiền 10.500.000 đồng (thanh toán tiền lãi suất chênh lệch). Sau đó, ông C có yêu cầu T cho rút 3.300.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân, T đồng ý và chuyển vào tài khoản của ông C số tiền này. Từ thời điểm tháng 11/2016 đến tháng 8/2018, T trả lãi cho ông C số tiền là 737.880.000 đồng.

    Sau khi ông C biết T bị nhiều người tố cáo vì đưa sổ tiết kiệm giả nên ông C đến OCB tìm hiểu mới được biết sổ tiết kiệm mà T đưa cho ông C là giả nên làm đơn tố cáo.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của ông C số tiền 5.200.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho ông C tổng cộng là 1.288.680.000 đồng.

  9. Chiếm đoạt của bà Lê Thị Lan P số tiền 9.700.000.000 đồng.

    Ngày 06/8/2015, bà Lê Thị Lan P và ông Lê Thái C (em ruột bà P) đến O - Chi nhánh Q1 mở 01 tài khoản đứng tên ông C để bà P nộp vào 5.000.000.000 đồng. T hướng dẫn và cam kết sẽ chuyển tài khoản đứng tên ông C thành tài khoản gửi tiết kiệm thời hạn 03 tháng, sau đó T đưa cho bà P 01 sổ tiết kiệm. P nộp vào 5.000.000.000 đồng mở tài khoản tiết kiệm, T đưa 21.000.000 đồng cho bà P (thanh toán tiền lãi suất chênh lệch). Đến hạn tất toán, T đưa số tiền 93.750.000 đồng (thanh toán tiền lãi theo quy định). Tính từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2018 tổng số tiền lãi bà P nhận được T là 1.283.250.000 đồng.

    Ngày 07/9/2015, bà P tiếp tục chuyển số tiền 4.500.000.000 đồng vào tài khoản của ông C để T mở tiếp 01 sổ tiết kiệm thứ 2 cho bà P, kỳ hạn 03 tháng và cũng được T thanh toán tiền. Từ tháng 9/2015 đến tháng 8/2018, tổng số tiền lãi bà P nhận được là 1.154.125.000 đồng.

    Mỗi khi đáo hạn, bà P đều nhận tiền lãi đầy đủ của 02 sổ tiết kiệm và cứ đến hạn tất toán thì tiếp tục gia hạn, T đến thu hồi sổ tiết kiệm cũ và đưa sổ tiết kiệm mới cho bà P. Tháng 8/2018, bà P tiếp tục lấy ra 200.000.000 đồng đưa cho T để làm sổ tiết kiệm thứ 3.

    Khi bà P biết T bị nhiều người tố cáo vì đưa sổ tiết kiệm giả nên đến OCB tìm hiểu mới được biết sổ tiết kiệm mà T đưa là giả, nên đã làm đơn tố cáo bị T chiếm đoạt số tiền là 9.700.000.000 đồng.

    Vũ Phương T chiếm đoạt của bà P số tiền 9.700.000.000 đồng và T khai trả tiền lãi cho bà P tổng cộng là 2.437.375.000 đồng.

  10. Chiếm đoạt của ông Hoàng L1 số tiền là 7.026.000.000 đồng:

    Ông L1 quen biết với vợ chồng Vũ Phương T, Nguyễn Duy L2 từ lâu, khoảng tháng 02/2018, ông L1 được T tư vấn về việc gửi tiền tiết kiệm tại O đang áp dụng lãi suất ưu đãi cho nhân viên là 12%/1 năm, thời hạn gửi là 03 tháng nên đồng ý gửi tiền tiết kiệm tại O. Vào thời điểm đó, ông L1 đang làm việc tại Hà Nội nên T hứa sẽ thay ông L1 làm các thủ tục mở sổ tiết kiệm, ông L1 tin tưởng nên đã 03 lần chuyển khoản vào các tài khoản khác nhau theo yêu cầu của T với tổng số tiền 7.026.000.000 đồng để mở 03 sổ tiết kiệm số 0107100005258001 đề ngày 27/02/2018, số 0107100005258002 đề ngày 28/02/2018 và số 0107100005254002 đề ngày 09/3/2018, cụ thể:

    • - Ngày 27/02/2018 và ngày 09/3/2018, ông L1 đã chuyển vào tài khoản số 11820823264010 tên Nguyễn Duy L2 mở tại Ngân hàng T14 – Chi nhánh L4 số tiền là 3.530.000.000 đồng và 1.520.000.000 đồng.
    • - Ngày 28/02/2018, ông L1 chuyển vào tài khoản số 01931071701 mang tên Vũ Thanh T7 mở tại Ngân hàng TP -- Chi nhánh S1 số tiền 1.976.000.000 đồng.

    Đến tháng 5/2018, ông L1 cần tất toán để rút tiền thì T nhiều lần viện nhiều lý do khác nhau để trì hoãn việc giao tiền. Khi chuyển tiền cho T mở sổ tiết kiệm, ông L1 không nói cho chồng T là Nguyễn Duy L2 biết. Cho đến tháng 8/2018, T mới thừa nhận 03 sổ tiết kiệm trên đều là sổ được T làm giả, ông L1 phát hiện hoàn toàn không có tiền của ông L1 gửi tiết kiệm tại O nên làm đơn tố cáo.

  11. Chiếm đoạt của bà Lê Thị Minh C1 số tiền 2.900.000.000 đồng.

    Ngày 06/8/2018, bà Lê Thị Minh C1 nhận được thông tin từ bà Huỳnh Thị Bích V1 đem 3.000.000.000 đồng gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP P2 do nhân viên Vũ Phương T môi giới, bà C1 cùng chồng là ông Dương Thanh N1 đem 3.000.000.000 đồng đến O Chi nhánh Q4. Tại đây, bà C1 được bà Huỳnh Thị Bích V1 giới thiệu quen biết với Vũ Phương T, T dẫn ông N1 đến quầy thu ngân nộp tiền. Tại quầy thu ngân, có nhân viên của O kiểm đếm tiền bằng máy, ông Ngô n chứng kiến toàn bộ quá trình kiểm đếm số tiền này. Sau đó, T đưa cho bà C1 01 sổ tiết kiệm của OCB, 01 giấy nộp tiền, 01 giấy kiểm đếm tiền có đóng dấu mộc “Đã thu tiền” nên bà C1 tin tưởng số tiền 3.000.000.000 đồng đã được nộp vào O Chi nhánh Q4, nên cùng chồng ra về. Trên đường đi, bà C1 nhờ bạn kiểm tra trên hệ thống OCB thì phát hiện không có số tài khoản gửi tiết kiệm như số tài khoản in trên sổ tiết kiệm mà bà C1 vừa nhận được của T. Bà C1 liền liên lạc với T để yêu cầu tất toán số tiền vừa gửi tiết kiệm, T đồng ý, hẹn bà C1 cầm các tài liệu mà T vừa đưa quay lại O Chi nhánh Q4 để nhận tiền. Bà C1 quay lại O Chi nhánh Q4, T yêu cầu bà C1 ngồi đợi T tất toán tiền. Trong khi ngồi đợi T thì có nhân viên mặc đồng phục của O đến, muốn xem sổ tiết kiệm mà bà C1 đang cầm. Sau đó, nhân viên O cho biết cuốn sổ tiết kiệm mà bà C1 đang giữ là giả, không phải do OCB phát hành. Do vậy, bà C1 đã đưa T đến Công an P3, Quận E trình báo sự việc.

    T nhận số tiền 3.000.000.000 đồng của bà C1, T đã thanh toán tiền lãi cho bà C1 là 100.000.000 đồng, 100.000.000 đồng đưa cho bà Huỳnh Thị Bích V1 và chuyển trả tiền cho vợ, chồng bà Xã Mỹ Dung, ông Trần Cao Hoàng S và ông Ngô Thanh K (hiện nay đang định cư nước ngoài) số tiền T nợ trước đó là 2.851.000.000 đồng.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn xác định các khách hàng bị T dùng thủ đoạn đưa sổ tiền tiết kiệm giả để chiếm đoạt tiền là các ông, bà Huỳnh Tuyết H, Phạm Minh H1, Nguyễn Đức M1, Đỗ Tuấn D1, Huỳnh Ngọc T8, Nguyễn Thị Nhật P1. Tuy nhiên, các ông, bà không hợp tác với Cơ quan điều tra, không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện việc bị T chiếm đoạt tiền và cũng không có đơn tố cáo T. Đối với bà Lê Hoàng Anh T9 đang ở nước ngoài, nên cơ quan điều tra chưa ghi lời khai được.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Phương T, kết quả: thu giữ 88 sổ tiết kiệm (chưa có thông tin người gửi), 01 hình dấu tròn của Ngân hàng TMCP P2 - chi nhánh Q3.

Thảo xác định nơi T in các mẫu sổ tiết kiệm là tại A L, Phường A, Quận E nhưng nơi này hiện đã tháo dỡ, không còn cơ sở in ấn nên chưa làm rõ được.

Ngày 02/11/2021, Vũ Phương T ra đầu thú tại Công an quận T, TP . và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại các Kết luận giám định số 1080/KLGĐ-TT ngày 15/8/2018; 263/KLGĐ-TT; 264/KLGĐ-TT và 265/KLGĐ-TT cùng ngày 26/02/2019 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận (bút lục 37-39; 44-47; 106):

  • “- Bản in Sổ tiết kiệm số 0116100004322010 mang tên Lê Thị Minh C1 (do bà C1 giao nộp) và Sổ tiết kiệm số 0116100004322010 mang tên Nguyễn Thị L3, Sổ tiết kiệm số 0116100004322010 mang tên Trần Thị Thu H2 (thu được khi kiểm tra xe máy của T) so với bản in tài liệu mẫu so sánh là không do cùng một bộ chế bản in ra.
  • - Hình dấu tròn trên 03 sổ tiết kiệm mang tên C1, L3, H2 nêu trên so với hình dấu tròn của O cung cấp làm mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Hình dấu tròn trên các hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, sổ tiết kiệm do các bị hại là Lê Thị Minh C1, Nguyễn Hồng T4, Lê Thái C, Lê Hoàng T6, Lê Hoàng Anh T9, Mạch Phạm Đăng A, Nguyễn Thị Hồng N giao nộp cần giám định được đóng ra từ con dấu tròn (thu được trong xe máy của Vũ Phương T) dùng làm mẫu so sánh.
  • - Hình dấu tròn trên các hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, sổ tiết kiệm do 07 bị hại là Lê Thị Minh C1, Nguyễn Hồng T4, Lê Thái C, Lê Hoàng T6, Lê Hoàng Anh T9, Mạch Phạm Đăng A, Nguyễn Thị Hồng N giao nộp cần giám định so với hình dấu tròn do O cung cấp là không do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Hình dấu tròn trên Công văn, giấy xác nhận số dư tiền gửi của Ngân hàng P2 gửi Nguyễn Hồng T4 (ký hiệu từ A83 đến A86) so với hình dấu tròn của Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 do cùng một con dấu đóng ra.
  • - Bản in các sổ tiết kiệm do Lê Thị Minh C1, Hoàng L1, Nguyễn Thị L3, Trần Thị Thu H2, Lê Thị Lan P giao nộp và 94 phôi sổ tiết kiệm mà Công an Q2 thu giữ khi khám xét chỗ ở của T ở mẫu cần giám định so với bản in sổ tiết kiệm do OCB cung cấp dùng làm mẫu so sánh không do cùng một chế bản in ra.

Kết luận giám định số 737/KLGĐ-TT ngày 06/5/2020 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:

“- Hình dấu tròn trên 03 Giấy xác nhận số dư tiền gửi, 13 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn (do bà Mai Thị Ngọc T5 giao nộp), Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn (do bà Hà Thị Bích V giao nộp), 17 Thông báo điều chỉnh lãi suất, 01 Giấy xác nhận số dư, 12 Giấy xác nhận số dư tiền gửi, 06 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, 02 sao kê tài khoản (do ông Vũ Hải A1 giao nộp) so với hình dấu tròn của Ngân hàng O cung cấp làm mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra.

- Hình dấu tròn trên 03 Giấy xác nhận số dư tiền gửi, 13 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn (do bà Mai Thị Ngọc T5 giao nộp), Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn (do bà Hà Thị Bích V giao nộp), 17 Thông báo điều chỉnh lãi suất, 01 Giấy xác nhận số dư, 12 Giấy xác nhận số dư tiền gửi, 06 Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, 02 sao kê tài khoản (do ông Vũ Hải A1 giao nộp) được đóng ra từ con dấu tròn (thu được trong xe máy của Vũ Phương T).”

Ngày 13/11/2023, Phòng K1 Công an Thành phố H có bản kết luận giám định số 10905/KL-KTHS kết luận nội dung sau: Hình dấu tròn có nội dung “NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN P2 QUẬN 1 - TP HỒ CHÍ MINH - M.S.D.N:0308522004 - C.T.C.P” trên 01 tờ giấy khổ A4 đóng dấu hình dấu tròn (thu giữ khi khám xét Vũ Phương T) so với hình dấu tròn có cùng nội dung tương tự trên biên bản thu mẫu dấu của Ngân hàng TMCP P2 – Chi nhánh Q3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Đối với các ông, bà Lê Thái C, Lê Thị Lan P, Lê Hoàng Anh T9, Nguyễn Đức M1, Nguyễn Thị Hồng N, Huỳnh Tuyết H, Nguyễn Hồng T4, Vũ Hải A1, Phạm Minh H1, Lê Hoàng T6, Hà Thị Bích V, Mạch Phạm Đăng A, Mai Thị Ngọc T5, Huỳnh Ngọc T10, Đỗ Tuấn D1, OCB đã cung cấp lịch sử đăng nhập vào tài khoản của các ông, bà. Cụ thể các nhân viên đã đăng nhập vào hệ thống, điều chỉnh thông tin là: Lương Thụy Cẩm T1, Cao Thị Thanh H3, Nguyễn Thanh D, Đoàn Thị M2, Lê Thị Ngọc Q, Lâm Thị H4, Nguyễn Đào Phương V, Nguyễn Trần Phương L2, Phạm Vũ Sơn C2, Đoàn Thị X, Phạm Thanh N2 không tham gia điều chỉnh thông tin khách hàng để giúp T trong việc chiếm đoạt tiền của khách hàng có mở tài khoản tại OCB.

Vật chứng thu giữ:

  • - 88 phôi Sổ tiết kiệm của O, chưa in thông tin.
  • - 01 ĐTDD Samsung màu tím, số IMEI 335220090497517.
  • - 01 hình dấu tròn của Ngân hàng TMCP P2 - CN Quận 1.

- Số tiền: 98.100.000 đồng (trong đó gồm 50.000.000 đồng do Huỳnh Thị Bích V1 trả lại cho bị cáo T khi biết sổ tiết kiệm T đưa cho bà Lê Thị Minh C1 là giả, còn 48.100.000 đồng là tiền của bị cáo T (đã gửi Ngân hàng V3 CN quận A).

Về trách nhiệm dân sự: Các ông, bà yêu cầu T bồi thường số tiền bị chiếm đoạt gồm: Mạch Phạm Đăng A số tiền 890.000.000 đồng, Vũ Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng, Nguyễn Hồng T4 số tiền 1.000.000.000 đồng, Nguyễn Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng, Mai Thị Ngọc T5 số tiền 1.050.000.000 đồng, Hà Thị Bích V số tiền 3.500.000.000 đồng, Lê Hoàng T6 số tiền 1.000.000.000 đồng, Lê Thái C số tiền 5.200.000.000 đồng, Lê Thị Lan P số tiền 9.700.000.000 đồng, Hoàng L1 số tiền 7.026.000.000 đồng, Lê Thị Minh C1 số tiền 2.900.000.000 đồng. Hiện nay, bị cáo T chưa bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm a điểm b khoản 3 Điều 341, điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Vũ Phương T 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 04 (bốn) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Tổng hợp hình phạt chung là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2021.

  2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Buộc bị cáo Vũ Phương T phải trả lại cho:

    • - Bà Mạch Phạm Đăng A số tiền 890.000.000 đồng.
    • - Ông Vũ Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng.
    • - Ông Nguyễn Hồng T4 số tiền 1.000.000.000 đồng.
    • - Bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng.
    • - Bà Mai Thị Ngọc T5 số tiền 1.050.000.000 đồng.
    • - Bà Hà Thị Bích V số tiền 3.500.000.000 đồng.
    • - Ông Lê Hoàng T6 số tiền 1.000.000.000 đồng.
    • - Ông Lê Thái C số tiền 5.200.000.000 đồng.
    • - Bà Lê Thị Lan P số tiền 9.700.000.000 đồng.
    • - Ông Hoàng L1 số tiền 7.026.000.000 đồng.
    • - Bà Lê Thị Minh C1 số tiền 2.900.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/4/2024, người bị hại – ông Lê Thái C có đơn kháng cáo đề nghị bản án phúc thẩm xem xét trách nhiệm bồi thường của Ngân hàng P2 (O) đối với ông C (số tiền 5.200.000.000 đồng);

Ngày 04/4/2024, người bị hại – bà Lê Thị Lan P có đơn kháng cáo yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung, lý do bị cáo Thảo n1 là người có chức vụ trong Ngân hàng P2 (O), việc chuyển tiền của bà P đến Ngân hàng P2 (O) là hợp lệ, có ủy nhiệm chi và xác nhận của ngân hàng, yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo.

Ngày 08/4/2024, bị cáo Vũ Phương T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Phần xét hỏi và phần hỏi:
    1. Bị cáo Vũ Phương T xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
    2. Bị hại - bà Lê Thị Lan P và ông Lê Thái C giữ nguyên kháng cáo và trình bày:

      Đề nghị tăng nặng mức hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xem xét lại tội danh đối với bị cáo, đề nghị Ngân hàng O phải có trách nhiệm bồi thường chính cho người bị hại. Số tiền Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại là chưa chính xác.

  2. Phần tranh luận:
    1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

      Đối với việc bị cáo Vũ Phương T xin được tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự để đình chỉ đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Phương T.

      Về phần hình phạt, tội danh đối với bị cáo Vũ Phương T: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Phương T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174, phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo 18 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 04 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 04 năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt chung là 26 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Người bị hại Lê Thị Lan P, Lê Thái C kháng cáo về phần hình phạt, tội danh đối với bị cáo T, về việc điều tra ở giai đoạn sơ thẩm nhưng không đưa ra được được chứng cứ, tình tiết mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.

      Về trách nhiệm dân sự: Bản án sơ thẩm xác định bị cáo Vũ Phương T có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại là có cơ sở. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    2. Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Vũ Phương T:

      Kháng cáo của người bị hại là làm xấu đi tình trạng của bị cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    3. Phần đối đáp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại - bà Lê Thị Lan P và ông Lê Thái C:

      Người bị hại có đăng ký tài khoản và chuyển tiền vào Ngân hàng O là có thật. Bị cáo thực hiện hành vi rút tiền, chuyển tiền tại ngân hàng diễn ra trong một thời gian dài. Do đó, cần phải xác định trách nhiệm của Ngân hàng O trong việc bồi thường cho những người bị hại. Trách nhiệm của cá nhân, đơn vị thuộc Ngân hàng O trong việc thiếu trách nhiệm dẫn tới hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo những nội dung kháng cáo của người bị hại, trong trường hợp không hủy bản án sơ thẩm thì tuyên buộc Ngân hàng O phải có trách nhiệm liên đới với bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại.

    4. Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
  3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Bị cáo Vũ Phương T, người bị hại - bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
    2. [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Phương T đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc đình chỉ đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Phương T.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
    1. [2.1] Bị cáo Vũ Phương T lợi dụng danh nghĩa nhân viên Ngân hàng TMCP P2 (viết tắt là O), đã đưa ra thông tin gian dối về các chương trình trả lãi suất gửi tiết kiệm ưu đãi để các bị hại tin tưởng đến đăng ký mở tài khoản tại OCB và chuyển tiền vào tài khoản đó. Khi hỗ trợ bị hại điền thông tin mở tài khoản, bị cáo T đã tự điền số điện thoại nhận mã OTP là số điện thoại của bị cáo, hoặc dùng thủ đoạn gian dối để bị hại cung cấp mã OTP cho T, sau khi các bị hại chuyển tiền vào tài khoản thì bị cáo đưa cho các bị hại sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn giả (bị cáo đã thuê làm giả 01 con dấu của Ngân hàng TMCP P2 - CN Quận 1 và làm giả 259 tài liệu là các loại giấy tờ như sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn) để các bị hại tin tưởng tiền của mình đã được chuyển vào tài khoản tiết kiệm. Từ đó, bị cáo T đã chiếm đoạt của 11 bị hại số tiền tổng cộng là 33.966.000.000 đồng, cụ thể: bà M Phạm Đăng A số tiền 890.000.000 đồng, ông Vũ Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng, ông Nguyễn Hồng T4 số tiền 1.000.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng, bà Mai Thị Ngọc T5 số tiền 1.050.000.000 đồng, bà Hà Thị Bích V số tiền 3.500.000.000 đồng, ông Lê Hoàng T6 số tiền 1.000.000.000 đồng, ông Lê Thái C số tiền 5.200.000.000 đồng, bà Lê Thị Lan P số tiền 9.700.000.000 đồng, ông Hoàng L1 số tiền 7.026.000.000 đồng, bà Lê Thị Minh C1 số tiền 2.900.000.000 đồng.
    2. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc sử dụng danh nghĩa nhân viên ngân hàng và cung cấp thông tin gian dối về các chính sách ưu đãi tiết kiệm để làm cho những người bị hại tin tưởng chuyển tiền rồi chiếm đoạt tiền những người bị hại là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện; bị cáo cũng nhận thức được hành vi thuê người làm giả con dấu, tài liệu là các sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn rồi đưa sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn giả cho các bị hại còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín trong hoạt động tín dụng.

    Như vậy hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến uy tín trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, tạo dư luận xấu trong xã hội.

    1. [2.2] Với hành vi nêu tại mục [2.1], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Phương T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 174 và Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  3. [3] Xét kháng cáo kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Vũ Phương T của người bị hại là bà Lê Thị Lan P
    1. [3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội là phụ nữ có thai; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó xử phạt bị cáo T 18 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 04 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, 04 năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt chung 26 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện
    2. [3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, người bị hại Lê Thị Lan P kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo T nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ tăng nặng hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo người bị hại Lê Thị Lan P, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Phương T.
  4. [4] Xét kháng cáo của người bị hại là bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C về việc xem xét trách nhiệm của Ngân hàng TMCP P2 (O)

    Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án có cơ sở xác định bị cáo Vũ Phương T là người cung cấp thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng rằng OCB có chương trình ưu đãi lãi suất (thực tế OCB không có các chương trình ưu đãi này), sau đó T bằng thủ đoạn của mình đã yêu cầu bị hại cung cấp mã OTP giao dịch hoặc tự điền số điện thoại của T là số điện thoại nhận mã OTP giao dịch trên tài khoản của các bị hại, đưa cho các bị hại sổ tiết kiệm giả, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn giả để bị hại tin tưởng, từ đó chiếm đoạt tiền của các bị hại (các sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn này không phải do OCB phát hành mà do T thuê người làm giả, thuê người làm giả con dấu đóng lên sổ, hợp đồng); T tự ý thực hiện các hành vi gian dối, thủ đoạn nêu trên, không phải đang thực hiện công việc thuộc chức vụ, quyền hạn của T tại OCB.

    Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T là người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại, buộc T bồi thường số tiền chiếm đoạt cho các bị hại là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

    Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Thị Lan P, Lê Thái C. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo T khai cách thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo như sau: Bị cáo tự điền số điện thoại của bị cáo vào bản đăng ký mở tài khoản của các khách hàng, bị cáo tự đăng ký giao dịch bằng số điện thoại này của bị cáo trên hệ thống ngân hàng trực tuyến OCB, nên bị cáo có mật khẩu, mã OTP. Khi khách hàng chuyển tiền vào tài khoản thì bị cáo tự thao tác giao dịch rút tiền theo hạn mức bị cáo tự đăng ký. Bằng thủ đoạn trên, bị cáo đã thực hiện hành vi rút tiền nhiều lần của nhiều người và trong thời gian tương đối dài mà ngân hàng không kiểm tra, không phát hiện để ngăn chặn kịp thời. Kiến nghị Ngân hàng nhà nước thanh tra hoạt động của ngân hàng O nơi khách hàng (bị hại) mở tài khoản và nơi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, để có biện pháp phù hợp đối với hoạt động của ngân hàng OCB, bảo vệ quyền lợi của khách hàng và hạn chế rủi ro cho các bên.

  5. [5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. [6] Án phí hình sự phúc thẩm:
    • - Bị cáo Vũ Phương T do rút toàn bộ kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Vì kháng cáo không được chấp nhận nên bị hại bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C mỗi người phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm trong vụ án hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Vũ Phương T.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

    1. 2.1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm a điểm b khoản 3 Điều 341, điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Vũ Phương T 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 04 (bốn) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

      Tổng hợp hình phạt chung là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2021.

    2. 2.2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Buộc bị cáo Vũ Phương T phải trả lại cho:

      • - Bà Mạch Phạm Đăng A số tiền 890.000.000 đồng.
      • - Ông Vũ Hải A1 số tiền 700.000.000 đồng.
      • - Ông Nguyễn Hồng T4 số tiền 1.000.000.000 đồng.
      • - Bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền 1.000.000.000 đồng.
      • - Bà Mai Thị Ngọc T5 số tiền 1.050.000.000 đồng.
      • - Bà Hà Thị Bích V số tiền 3.500.000.000 đồng.
      • - Ông Lê Hoàng T6 số tiền 1.000.000.000 đồng.
      • - Ông Lê Thái C số tiền 5.200.000.000 đồng.
      • - Bà Lê Thị Lan P số tiền 9.700.000.000 đồng.
      • - Ông Hoàng L1 số tiền 7.026.000.000 đồng.
      • - Bà Lê Thị Minh C1 số tiền 2.900.000.000 đồng.

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    3. 2.3. Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. 3. Tiếp tục giam giữ bị cáo Vũ Phương T để đảm bảo Thi hành án.
  4. 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  5. 5. Về án phí hình sự phúc thẩm:
    • - Bị cáo Vũ Phương T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Bị hại bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm trong vụ án hình sự.
  6. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Bùi Thị Thu

Nguyễn Thị Thanh

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 619/2024/HS-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 619/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại bà Lê Thị Lan P, ông Lê Thái C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 26/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger